Bài mới nhất

04/08/2013

Hiện tượng tự tử ở giới trẻ hiện nay

     Ngày nay khi mà xã hội ngày càng phát triển đời sống vật chất tinh thần thiết nghĩ ngày một tiến bộ, cải thiện, nâng cao, góp phần tác động không nhỏ tác động không nhỏ tới tâm- sinh lý, thể chất của con người giúp người ta thấy yêu, tôn trọng cuộc sống hơn để gia tăng sự hưởng thụ cuộc sống. Tuy nhiên bên cạnh những suy nghĩ thái độ tích cực như trên thì không ít người lại không tự tìm ra, hoặc vì những lí do tiêu cực nào đó họ không tìm ra được suy nghĩ như vậy khiến họ cảm thấy chán ghét cuộc sống, họ không muốn sống nảy sinh và thực hiện quyết định “tự tử”. Trong số những người như vậy có một bộ phận là những người trẻ tuổi. Họ- những con người trẻ lứa tuổi trần đầy sinh khí, nghị lực và hoài bão, là lực lượng lao động to lớn của tương lai không thể thay thế với sự phát triển kinh tế- xã hội đất nước, là niềm tin hy vọng của mỗi gia đình thầy cô bè bạn... “Trẻ người non dạ” đó là cách mà người ta hay nói về đối tượng này, trẻ về tuổi tác giới trẻ cũng trẻ người về kinh nghiệm sống, phương cách sống nhất là trong bối cảnh xã hội có nhiều cám dỗ đặt ra không ít thách thức đối với chính bản thân họ. Chính vì vậy mà những vụ việc tự tử ở giới trẻ trong thời gian gần đây đã gây ra những hậu quả vừa thương tâm vừa nhức nhối với gia đình nhà trường xã hội. Trong phạm vi bài viết của mình tác giả không ham muốn hiểu tường tận về mọi vấn đề liên quan đến hiện tượng tự tử mà chỉ đưa ra những quan điểm, phân tích, đánh giá của bản thân, từ đó lí giải một phần nào đó về hiện tượng tự tử (HTTT) ở giới trẻ theo cách nhìn của mình đồng thời kiến nghị một số biện pháp giải quyết.




     Đi từ khía cạnh tâm lí HTTT có thể được lí giải qua các nguyên nhân sau.


     Về nguyên nhân tâm lí bên trong

     Quyết định tự tử là khi họ đã không còn thiết sống nữa hay nói cách khác là họ chán ghét cuộc sống này. Vấn đề đặt ra là khi nào thì hị cảm thấy “chán sống”. Đó thật sự là vấn đề rất phức tạp trong nhận thức suy nghĩ của mỗi con người cụ thể. Khi có thái độ đó họ suy nghĩ về sự sống với đầy màu sắc tiêu cực, đồng thời suy nghĩ tìm đến cái chết chiếm lĩnh đầy “không gian” tâm trí họ. Sự sống lúc ấy mang đến sự bất mãn chán ghét đến tột độ đem đến sự sụp đổ hoàn toàn về tinh thần, mất niềm tin nghị lực không tìm thấy lí do gì để có thể cho họ tồn tại.

      Đối lập lại cái chết không những bao trùm tâm trí, tâm lí họ. Nó đem đến sự giải thoát tất cả, mọi thứ sẽ trở nên “nhẹ tựa lông hồng”. Nghĩ về cái chết cho phép bản thân giải thoát khỏi mọi nghi ngờ, khổ đau, thất vọng do khách quan hay tự thân họ đem lại như: thoát khỏi cảnh nghèo khổ, khó khăn, mất việc, bị người khác khinh bỉ, mất người yêu, thi rớt, trượt đại học, chịu khủng hoảng kéo dài không ai quan tâm... Cái chết cũng có thể đem ra đánh đổi, đe dọa, hay thách thức người khác phải thực hiện theo những “yêu sách” của mình. Cái chết cũng có thể để khẳng định lương tâm, bản chất trong sạch khi bị người khác vu oan nghi ngờ. Cái chết cũng có khi để bảo vệ đến cũng một quan hệ xã hội nào đó như tình yêu trai gái bị phản đối kịch liệt từ phía gia đình hoặc chạy đến cái chết để trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật khi hó có hành vi vi phạm pháp luật hình sự….Cái chết đó đồng nghĩa với việc tự tử.


     Về nguyên nhân tâm lí bên ngoài.

     Trên thực tế HTTT ở giới trẻ bên cạnh nguyên nhân tâm lí cá nhân là nguồn gốc động cơ thúc đẩy chủ yếu thì thiếu “điểm tựa” tâm lí là nguyên do thứ hai. Một nền tảng tâm lí đang bị hoang mang dao động đến cực độ không một sự trợ giúp, góp ý, tư vấn, khuyên răn… Cũng có khi thiếu điểm tựa tâm lí góp phần dẫn đến quyết định “dại dột”của giới trẻ. Điểm tựa đó có thể là điểm tựa từ gia đình, nhà trường, xã hội.

     Gia đình là nơi gần gũi nhất để các thành viên có thể giải bày những tâm tư tình cảm, là nơi mà tất cả mọi người coi đó là điểm tựa vững chắc an toàn nhất, nhất là đối với các thành viên trẻ trong gia đình lại có vị trí quan trọng đến nhường nào khi mà bản thân họ còn trẻ để có thể suy nghĩ. Nhưng gia đình cũng có thể là điểm mở đầu của suy nghĩ dẫn đến ý định tự tử ở con em mình như hoàn cảnh gia đình có quá nhiều khó khăn, bố mẹ quá khắt khe, có bạo hành bạo lực, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn xung đột trong gia đình… khiến con em họ không thể chịu đựng được những “cú sốc tinh thần” đó. Nó như những nút thắt tâm lí khiến những người trẻ tuổi không thể tự mình cởi bỏ ra khỏi suy nghĩ của mình. Các thành viên trong gia đình thiếu quan tâm, chia sẻ, hỏi han, sự động viên kinh nghiệm sống… cũng là lí do khiến tâm lí ý định tự tử một khi đã được “cài đặt” thì khó được giải thoát, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khó lường.

     Nhà trường- môi trường giáo dục đứng vị trí thứ hai trong quá trình hoàn thiện nhân cách đạo đức, bản lĩnh con người, là môi trường giáo dục những kiến thức bồi dưỡng trí tuệ, tạo hành trang cho mỗi người chuẩn bị bước vào đời. Tuy nhiên điểm tựa từ nhà trường trực tiếp là bạn bè cùng học, thầy cô giáo giảng dạy đôi khi cũng là nguyên nhân của HTTT xảy ra ở chính học sinh, sinh viên của mình. Người dạy chỉ lo dạy, thiếu quan tâm đến đời sống tâm sinh lí học trò, thiếu giảng dạy kiến thức trang bị kĩ năng sống nếu có thì cũng chỉ rất hạn chế, nhiều khi còn to tiếng, khắt khe, trách móc, quát mắng học trò thậm tệ… Nhiều trường hợp đẩy học trò vào lối nghĩ tiêu cực, tác động quá mạnh vào danh dự nhân phẩm, tự trọng của bản thân học trò gây bế tắc về tâm lí, bế tắc về cách giải quyết. Có trường hợp giáo viên chỉ đơn giản nghi ngờ học trò A là “ăn cắp” điện thoại, tiền bạc của bạn trong lớp, nói tên trước tập thể đã khiến học sinh này uất ức quá để giải thoát cho mình bạn này đã treo cổ tự tử (đó là câu chuyện xảy ra vào năm 2011 của một sinh trường THPT chuyên Lê Hồng Phong, Nam Định). Trong mảnh giấy tuyệt mệnh của mình, học sinh này khẳng định mình không trộm cắp đồ của bạn, mong mọi người hiểu cho… Nguyên nhân cũng có thể xuất phát từ bạn bè ít quan tâm, thiếu giãi bày, chia sẻ thậm chí còn xa lánh, hắt hủi, chê bai, chế giễu, chọc tức những khiếm khuyết của người bạn cùng lớp cùng, trường mình. Đã có học sinh nam một trường THCS đã phải tự tử do bị xúc phạm nghiêm trọng về lòng tự trọng của bản thân, vì bạn bè cùng lớp ngày nào cũng chê bai bạn này “là đồ con gái”, “đồ BD”, “cái loại nửa nam nửa nữ”. Điều đó vừa có thể là nguyên do, vừa có thể là động lực thúc đẩy khiến tâm lí những cô cậu học trò trở nên tiêu cực.

     Trong xã hội hiện nay, công tác thông tin tuyên truyền về vấn đề này, hiện tượng này còn hạn chế về số lượng, hiệu suất truyền thông cũng như hiệu quả, phương pháp, hình thức tuyên truyền, sự tác động chuyển hóa, cảm hóa giáo dục tới cộng đồng nhất là giới trẻ còn chưa cao. Trong khi đó lối sống hiện đại kiểu phương tây, lối sống ăn chơi, buông thả, sự tác động ghê gớm của điện ảnh, Internet, công nghệ giải trí với vô số thông tin mang màu sắc tiêu cực: đồi trụy, bạo lực, trò chơi mạo hiểm, sống tự do vô kỉ luật, đua đòi thậm chí có cả những thông tin hướng dẫn trình bày cách thức tự tử…Trong khi đó hình thức và cả nội dung những thông tin kiểu như thế này lại vô cùng hấp dẫn cuốn hút đã tác động không hề nhỏ tới tầng lớp người trẻ tuổi, “cổ súy” tiếp thêm động lực, phương pháp cho người có ý định tự tử.


Bố mẹ đối xử ngược đãi với con cái- môt hành động nhiều sai xót, tác động không tốt đên tâm sinh lí của con trẻ. Nếu tình trạng này cứ dài không có biện pháp khắc phục thì sẽ là vết ám ảnh rất lớn trong đời sống của con, trên thực tế đã có nhiều trường hợp đứa trẻ quyết định tự tử vì lí do này.


     Tự tử ở giới trẻ do nguyên nhân xã hội có thể đến từ việc bảo vệ, hy sinh đến cuối cùng tình yêu trai gái bị phá vỡ, ngăn cản; có thể đến từ việc quyết hy sinh bảo vệ thần tượng tinh thần mình; tránh định kiến xã hội cho bản thân như quan hệ nam- nữ không trong sáng bị quay chụp lén rồi tung lên mạng Internet với đủ các bài bình luận, bị dư luận xã hội lên án bàn tán bình phẩm, áp đặt định kiến khiến cho một trong hai người, hoặc thậm chí có cả hai quyết tự tử để được giải thoát.

     Nguyên nhân tâm lí bên trong và nguyên nhân tâm lí bên ngoài gắn bó chặt chẽ với nhau, vừa là cái cớ vừa là động cơ, động lực hành động tự tử ở giới trẻ; có khi nó chuyển hóa vị trí, vai trò cho nhau, có khi nguyên nhân này có trước nguyên nhân kia có sau, có khi lại ngược lại; có khi hai nguyên cùng tác động một cách đồng thời, tuy nhiên nguyên tâm lí cá nhân bên trong quyết định có hay không thực hiện hành động tự tử cuối cũng vì cá nhân người tự tử là chủ thể hành động.


     Yếu tố khác liên quan đến HTTT ở giới trẻ

     Ngoài chuẩn bị tâm lí cá nhân người tự tử còn trực tiếp hoặc thông qua nhân tố khác để lựa chọn cách thức tự tử có thể bằng tác động của các vật sắc nhọn: dao, kéo, thủy tinh; vật gây cháy nổ: xăng, cồn, súng đạn; chất gây độc: thuốc ngủ, thuốc trừ sâu, chất kích thích từ ma túy, thuốc lắc; vật, hành vi gây tắt đường thở: dây trói, dẻ, nhảy xuống ao, hồ, sông suối sâu; các hành vi khác như: tuyệt thực, đập đầu, cắn lưỡi, nhảy lầu, phóng xe đua xe tốc độ cao trên đường cao tốc; lựa chọn thời gian thời điểm, vị trí địa điểm tiến hành như chọn thời gian địa điểm mà không ai để ý, khó nhìn, kín đáo, bí mật, ít người qua kẻ lại…

     Dưới góc độ sinh lý, chúng ta đều biết ở độ tuổi thanh thiếu niên, hưng phấn trong thần kinh rất mạnh, do đó các em dễ mất kiểm soát và có hành động bất ngờ.Theo đó khi các yếu tố đã hoàn thiện thì HTTT và hậu quả đáng tiếc hoàn toàn có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

     Đề xuất kiến nghị.

     HTTT ở giới trẻ hay ở bất cứ đối tượng nào khác đều là hành vi mang đến nhiều hậu quả thậm chí khôn lường. Đó là tự mình hại mình, hành vi dại dột, thiệt thân. Đối với gia đình là bao nỗi đau của việc mất người thân, có cả sự mang tiếng trong hàng xóm láng giềng. Đối với thầy cô thì mất trò, bạn bè thì mất bạn. Đối với xã hội gây nhiều lời qua tiếng lại, hình thành nhiều dư luận nhiều chiều. Nó không chỉ ám ảnh, gây thương tâm, xót xa trong một thời gian mà còn kéo dài rất dai dẳng sau vụ tự tử, không chỉ tác động đến một bộ phận địa bàn mà lan rộng, “truyền tai” ra nhiều nơi, nhiều địa điểm khác, không chỉ ảnh hưởng tới một người mà rất nhiều người. HTTT là nỗi đau đáu của gia đình, nhà trường, xã hội đòi hỏi các chủ thể có trách nhiệm cùng nhau tìm ra cách giải quyết, khắc phục, phòng ngừa hiện tượng trên.

     Theo ý kiến của bản thân tôi thì cần thiết phải:

     - Tăng cường, đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền, truyền thông đại chúng, đổi mới hình thức nội dung, phương pháp về vấn đề tự tử trong xã hội. Để làm được và thực hiện có hiệu quả điều đó cần phải có sự tham gia vào cuộc mạnh mẽ, có trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân; chú trọng đến chất lượng của công tác truyền thông theo đó tập trung vào phản ánh sự nguy hại HTTT trong giới trẻ, nêu ví dụ người thật việc thật cụ thể để mọi người cùng nhận thức tự rút ra bài học cho bản thân và người thân mình.

     - Tích cực thực hiện tốt việc giáo dục kĩ năng kinh nghiệm sống cho giới trẻ ở trong nhà trường cũng như tại  chính mỗi gia đình; giáo dục kĩ năng sống chú trọng vào giáo dục bản lĩnh, tâm lí cá nhân khi phải đối mặt với những khó khăn thử thách trong cuộc sống, giáo dục ý thức trách nhiệm của bản thân đối với gia đình và xã hội; giáo dục phải thường xuyên, kiên trì bền bỉ đồng thời phải có hình thức phương pháp giáo dục lôi cuốn phù hợp với cá tính của giới trẻ.

     - Xây dựng quy chế phối hợp quản lí giáo dục học sinh, sinh viên, người trẻ tuổi giữa gia đình, nhà trường và xã hội để kịp thời uốn nắn, tư vấn, động viên, hướng dẫn tháo gỡ những “nút thắt tâm lí” khó bảy tỏ khiến giới trẻ có hành vi dại dột; có biện pháp theo dõi phòng ngừa, hạn chế đến mức thấp nhất ý định tự tử và chuẩn bị tự tử ở giới trẻ.

     Trên cơ sở đó đề ra những bước đi cách làm cụ thể, trong đó có thể chú ý như: 1) Theo dõi và nhận biết sớm các “thông điệp” về ý định tự tử qua cách nói chuyện hay sự thay đổi trong hành vi của trẻ; 2) loại trừ và giảm bớt những âu lo thường ngày cho trẻ thông qua việc giảm bớt những áp lực trong học tập và yêu cầu của gia đình, thầy cô giáo; 3) Tăng cường mối quan hệ gắn bó hơn với trẻ bằng cách nói chuyện với các em, cố gắng hiểu và giúp đỡ các em; 4) Phát hiện học sinh có rối loạn về cảm xúc và trợ giúp tâm lý cho các em, chú ý giúp đỡ tâm lí những học sinh có biểu hiện như trốn học, bạo lực, cảm xúc thất thường; 5) Tháo gỡ các mặc cảm và khinh miệt của dư luận đối với những học sinh có đặc điểm tính cách khác biệt, những học sinh có bệnh, có thể gửi học sinh đi điều trị rối loạn tâm thần và lạm dụng rượu, ma túy (nếu có); 6) Hạn chế học sinh tiếp xúc với các phương tiện có thể dùng để tự tử như thuốc độc, thuốc ngủ, thuốc trừ sâu, các vũ khí, vật liệu nổ, vật liệu gây nguy hiểm khác...;7) Trang bị kiến thức cho phụ huynh, giáo viên và các nhân viên trường học cách tiếp xúc và cách hỗ trợ cho những học sinh gặp khó khăn về tâm lý.
Huỳnh Trọng

Hot!

Từ khóa SEO:

0 nhận xét:

Đăng nhận xét