Bài mới nhất

28/01/2014

NGUYỄN DOÃN KIÊN - ĐIÊN HAY XEM THƯỜNG PHÁP LUẬT


                                    Hoa đất


Những tưởng hành vi ngông cuồng của Nguyễn Doãn Kiên chỉ xẩy ra trong phim viễn tưởng: Nguyễn Doãn Kiên cùng 03 học viên của cái gọi là môn phái Pháp luân Công bàn bạc, lập kế hoạch kéo đổ tượng đài Lê Nin bằng dây cáp, ai ngờ đấy là sự thật. Sự kiện trên đã được cộng đồng bàn phím và một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam giật tít với nội dung gần giống với sự kiện người biểu tình ở Uckraina kéo đổ tượng đài Lê Nin ở thủ đô Ki ép trong thời gian qua. Sự thật là qua những phát ngôn đầy tính hoang tưởng của kẻ chủ mưu Nguyễn Doãn Kiên, độc giả có thể dễ dàng phát hiện ra những mưu đồ từ hành vi bẩn thỉu này.
Pháp luân công là môn phái bất hợp pháp tại nhiều nước trên thế giới. Được truyền vào Việt Nam thông qua các hình thức lén lút với nhiều thủ đoạn lôi kéo tín đồ, núp bóng dưới các hình thức nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật… Theo thống kê, có nhiều người tin theo những lời "dụ dỗ" của môn phái này đã bỏ công việc, trốn gia đình, tổ chức tuần hành, cộng tu để mong được “giác ngộ”, “giải thoát”. Nhiều học viên tin theo Pháp luân công đã chết do không dùng thuốc để chữa bệnh, không đến bệnh viện chữa trị. Theo thông tin từ gia đình của các đối tượng tham gia vụ kéo đổ tượng đài Lê Nin, Nguyễn Doãn Kiên có tiền sử bệnh thần kinh, đã nhiều tháng nay không vê nhà. Việc Nguyễn Doãn Kiên và đồng bọn có hành vi kéo đổ tượng đài Lê Nin không chỉ là lời khẳng định cho chứng bệnh giai đoạn cuối mà các đối tượng đang mang phải, phải chăng đây là một hình thức “công khai hóa”, "quảng bá hình ảnh" của Pháp luân công. Ngay sau sự kiện này, cộng đồng theo Pháp luân công đã không ngừng công kích, ném đá những hành vi đáng xấu hổ trên, cần thiết phải xử lý Nguyễn Doãn Kiên, tuy vậy cũng tích cực "bốc phét", ca ngợi về tác dụng chữa bệnh của môn phái này, dùng những ngôn từ đó làm “đòn bẩy” để mong muốn cộng đồng, chính quyền công nhận tính hợp pháp của tổ chức?
Dưới góc độ pháp lý, theo như lời kể của Nguyễn Doãn Kiên các đối tượng đã bàn bạc rất kỹ trước lúc tiến hành. Nếu vẫn chưa tỉnh ngộ với những "ảo giác" về công dụng của Pháp luân công, tôi nghĩ cần thiết phải áp dụng các chế tài của pháp luật với những hành vi kiểu này để răn đe theo quy định tại Điều 231 Bộ luật Hình sự:


Điều 231. Tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia

1.    Người nào phá huỷ công trình hoặc phương tiện giao thông vận tải, thông tin - liên lạc, công trình điện, dẫn chất đốt, công trình thuỷ lợi hoặc công trình quan trọng khác về an ninh, quốc phòng, kinh tế, khoa học - kỹ thuật, văn hoá và xã hội, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 85 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm.
2.    Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a) Có tổ chức;
b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;
c) Tái phạm nguy hiểm.




27/01/2014

Chợ tết



Đoàn văn Cừ

Dải mây trắng đỏ dần trên đỉnh núi, 
Sương hồng lam ôm ấp nóc nhà tranh, 
Trên con đường viền trắng mép đồi xanh, 
Người các ấp tưng bừng ra chợ Tết. 
Họ vui vẻ kéo hàng trên cỏ biếc; 
Những thằng cu áo đỏ chạy lon xon, 
Vài cụ già chống gậy bước lom khom, 
Cô yếm thắm che môi cười lặng lẽ. 
Thằng em bé nép đầu bên yếm mẹ, 
Hai người thôn gánh lợn chạy đi đầu, 
Con bò vàng ngộ nghĩnh đuổi theo sau. 

Sương trắng rỏ đầu cành như giọt sữa, 
Tia nắng tía nháy hoài trong ruộng lúa, 
Núi uốn mình trong chiếc áo the xanh, 
Đồi thoa son nằm dưới ánh bình minh. 
Người mua bán ra vào đầy cổng chợ. 
Con trâu đứng vờ rim hai mắt ngủ, 
Để lắng nghe người khách nói bô bô. 
Anh hàng tranh kĩu kịt quẩy đôi bồ, 
Tìm đến chỗ đông người ngồi giở bán. 
Một thầy khoá gò lưng trên cánh phản, 
Tay mài nghiên hí hoáy viết thơ xuân. 
Cụ đồ nho dừng lại vuốt râu cằm, 
Miệng nhẩm đọc vài hàng câu đối đỏ. 
Bà cụ lão bán hàng bên miếu cổ, 
Nước thời gian gội tóc trắng phau phau. 
Chú hoa man đầu chít chiếc khăn nâu, 
Ngồi xếp lại đống vàng trên mặt chiếu. 
Áo cụ lý bị người chen sấn kéo, 
Khăn trên đầu đang chít cũng bung ra. 
Lũ trẻ con mải ngắm bức tranh gà, 
Quên cả chị bên đường đang đứng gọi. 
Mấy cô gái ôm nhau cười rũ rượi, 
Cạnh anh chàng bán pháo dưới cây đa. 
Những mẹt cam đỏ chót tựa son pha. 
Thúng gạo nếp đong đầy như núi tuyết, 
Con gà trống mào thâm như cục tiết, 
Một người mua cầm cẳng dốc lên xem. 

Chợ tưng bừng như thế đến gần đêm, 
Khi chuông tối bên chùa văng vẳng đánh, 
Trên con đường đi các làng hẻo lánh, 
Những người quê lũ lượt trở ra về. 
Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê, 
Lá đa rụng tơi bời quanh quán chợ.

Nét đẹp trong nếp sống ngày Tết cổ truyền của người Việt


Tết Nguyên Đán là tiết lễ đầu tiên trong năm, mở đầu cho một năm mới với bao niềm tin và hy vọng về những thay đổi tốt lành. Sau những tháng ngày tảo tần, vất vả làm ăn, “năm hết Tết đến” là dịp để mọi người nghỉ ngơi và sum họp. Bởi thế Tết là một sinh hoạt văn hóa với nhiều ý nghĩa vô cùng thiêng liêng và cao quý của dân tộc Việt Nam ta.

Quanh năm suốt tháng, mọi người đều phải lo làm ăn để kiếm sống, có người phải đi làm ăn nơi đất khách quê người. Vì thế, ngày Tết là ngày để mọi người được đoàn tụ dưới mái ấm gia đình của mình. Hầu hết mọi người, dù có khó khăn đến đâu, dù cách xa đến đâu, họ cũng cố gắng trở về để cùng đón Tết

với gia đình. Tất cả các thành viên trong gia đình đều cùng nhau chuẩn bị cho ngày Tết. Các mẹ, các chị thì lo việc bếp núc, cổ bàn, còn những người đàn ông, con trai thì lo quét dọn nhà cửa, vườn tược, bàn thờ gia tiên cho trang nghiêm, sạch đẹp.


Ngày thường, rất hiếm khi tất cả các thành viên trong gia đình có mặt đông đủ. Chỉ có ngày Tết mọi người trong gia đình mới có cơ hội để quây quần bên nhau, cùng ăn cơm với nhau và cùng nhau hàn huyên tâm sự, chia sẻ và cảm thông cho nhau. Do vậy, ngày Tết là ngày của sự đoàn tụ, là ngày để mọi người trở về với gia đình huyết thống của mình. Sự trở về này làm cho mọi người cảm thấy ấm áp tình người, không còn thấy mình bị lạc lõng, bơ vơ giữa dòng đời táp nập.

Nét đẹp văn hóa truyền thống ngày tết Cùng với sự trở về với gia đình huyết thống là sự trở về với gia đình tâm linh. Từ rất xa xưa, người Việt chúng ta đã biết thờ cúng ông bà, tổ tiên của mình. Dù có nghèo khó đến mấy, mọi gia đình đều cố gắng sắm sửa một vài mâm cổ để cúng ông bà, tổ tiên, mời ông bà tổ tiên cùng về đón Tết với con cháu. Việc làm này đã tác động sâu sắc vào tâm thức của những người con đất Việt, nhắc nhở mọi người nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà, cha mẹ, làm cho lòng hiếu thảo trong mỗi người con được tiếp thêm sức mạnh, được nuôi lớn không ngừng.


Ngày đầu năm đi chùa lễ Phật đã trở thành một tập tục của người dân nước ta. Phần lớn người dân Việt, dù theo đạo Phật hay không theo đạo Phật, họ đều đến chùa vào ngày đầu năm. Mọi người đến chùa để lễ Phật, để cầu nguyện và hái lộc đầu Xuân. Đối với người Việt chúng ta, ngày đầu năm có ý nghĩa rất quan trọng, nó có thể ảnh hưởng đến đời sống của bản thân suốt cả một năm. Vì thế mọi người đã tìm đến với chốn thiên, nơi trang nghiêm, thanh tịnh để gột sạch thân tâm. Khi lễ Phật, thân quỳ trước đức Phật nên thân nghiệp được thanh tịnh, miệng xưng tán danh hiệu Phật và phát lời cầu nguyện chân chính nên khẩu nghiệp được thanh tịnh, tâm ý duyên theo danh hiệu Phật và lời cầu nguyện nên ý nghiệp được thanh tịnh. Ngày Xuân đi chùa ngoài việc lễ Phật và cầu nguyện, mọi người còn có thói quen hái lộc đầu Xuân. Người ta hái một nhánh lá, một cành hoa trong vườn chùa với niềm tin là sẽ được may mắn, an lành trong một năm, mong sao năm mới có được một cuộc sống ấm no, hạnh phúc.

Như vậy, Tết là một dịp tốt để mọi người trở về với gia đình tâm linh, sống với đời sống tâm linh của mình. Sự trở về này đã tiếp thêm sức mạnh cho mọi người trong cuộc sống, giúp mọi người tự tin hơn và lạc quan hơn trước những biến cố của cuộc đời. Không những thế, ngày Tết còn là dịp nhắc nhở mọi người nhớ đến

những vị ân nhân của mình và cũng là dịp để thể hiện lòng biết ơn. Người Việt chúng ta đã nhắc nhở nhau rằng:

“Mồng một ăn Tết nhà cha

Mồng hai nhà mẹ, mồng ba nhà thầy.”


Qua đây cho chúng ta thấy rằng, người Việt Nam rất trọng hiếu đạo. Làm người thì điều quan trọng nhất là phải hiếu thảo với cha mẹ. Cha mẹ là người sinh ra ta, giáo dưỡng ta nên người, đã chịu không biết bao nhiêu cay đắng để cho chúng ta có được một cuộc sống ngọt bùi. Cha mẹ đã hy sinh cả cuộc đời mình cho con. Vì thế, làm con thì phải hiếu thảo với cha mẹ, ngày đầu năm phải thăm viếng cha mẹ, mừng tuổi cha mẹ, phải chăm lo cho cha mẹ để cha mẹ được vui lòng.
Sau cha mẹ là người thầy. Cha mẹ là người sinh ra ta, còn thầy là người tác thành sự nghiệp cho ta, dạy cho ta biết những điều hay, lẽ phải trong cuộc sống. Ân tình của thầy cũng vô cùng sâu nặng. Cho nên làm người thì phải biết đền đáp công ơn dạy dỗ của thầy. Một trong những cách thức thể hiện lòng biết ơn và đền ơn đối với thầy là phải thăm viếng thầy vào dịp đầu Xuân. Người học trò không nhất thiết phải đem mâm cao cỗ đầy đến cho thầy, chỉ cần đến với thầy bằng tấm chân tình thì dù không có một món quà nào cả cũng đủ làm ấm lòng thầy, đủ làm cho thầy hạnh phúc lắm rồi. Sự viếng thăm những người thân, những vị ân nhân trong ngày Tết là một nghĩa cử cao đẹp. Và có một điều mà người Việt chúng ta cũng rất chú trọng trong dịp Tết, đó là sự thận trọng trong mọi cử chỉ, hành vi của mình. Bởi mọi người nghĩ rằng, những gì diễn ra trong ngày đầu năm sẽ ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của năm đó, cho nên mọi người rất thận trọng trong lời nói, cách ứng xử của mình và trong việc làm của mình. Ngày tết, mọi người kiêng cử những lời gắt gỏng, những hành động, việc làm thô lỗ như chửi mắng, đánh đập… Dù cho trong năm cũ có những sự hiểu lầm, thù oán hay ganh ghét, đố kỵ nhau thì đến ngày Tết người ta cũng vui vẻ bỏ qua cho nhau, mọi người thường nhắc nhở nhau rằng, “Giận đến chết, ngày Tết cũng vui”. Đây chính là sự biểu hiện của một sức sống cộng đồng thân ái, bao dung, độ lượng và đầy trách nhiệm. Trong những ngày Tết còn có nhiều trò vui chơi giải trí, các hội thi bình dân, lành mạnh và bổ ích để cho mọi người có thể vui chơi, như là đua thuyền, thi đấu vật, thi đấu bóng đá, bóng chuyền, kéo co... Các cuộc thi này bao giờ cũng thu hút đông đảo người xem. Tục xin chữ ngày Tết, treo câu đối đỏ, treo tranh thư pháp... cũng là những thú chơi tao nhã và mang nhiều ý nghĩa cao quý. Đầu năm người thường xin chữ nhẫn, chữ phúc, lộc, thọ, chữ tâm, chữ đức... Những chữ này cũng như nội dung của các câu đối, các câu thư pháp đều chứa đựng trong nó những ý nghĩa sâu sắc. Ngoài những câu có nội dung cầu chúc những điều may mắn cho năm mới, còn lại phần lớn là những câu, những chữ có tác dụng giáo dục đạo đức, tình cảm cho con cháu trong gia đình.

Những nét đẹp trong nếp sống ngày Tết của nhân dân ta có vai trò quan trọng trong việc giáo dục nhân cách cho thế hệ trẻ. Giữ gìn và phát huy những nét đẹp ấy là một việc làm có ý nghĩa, góp phần làm cho bộ mặt và bản sắc văn hóa Việt thêm phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, văn minh, và tốt đẹp hơn.


Những bậc phụ huynh, những người làm công tác giáo dục, công tác văn hóa phải là những người đi đầu và làm gương trong việc giữ gìn và phát huy những nét đẹp trong nếp sống ngày Tết của người Việt. Và tất cả mọi thành viên trong xã hội cũng phải nêu cao ý thức này. Có như thế đất nước ta mới có thể càng ngày càng tiến bộ, càng ngày càng văn minh, hạnh phúc.
Nguồn: http://congdanvietnam2.blogspot.com/2013/01/net-ep-trong-nep-song-ngay-tet-co.html

Kỷ niệm 40 năm Hiệp định Paris được ký kết

Lê Quang
Ngày 27/01/21973 đã ghi nhận dấu mốc lịch sử của dân tộc Việt Nam. Đó là ngày Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết. Hiệp định Paris là dấu mốc kết thúc cuộc đàm phán Paris kéo dài 5 năm với thắng lợi ngoại giao thuộc về nhân dân Việt Nam. Đây là thắng lợi ngoại giao vô cùng quan trọng, mở ra điều kiện để chúng ta hoàn toàn thống nhất đất nước vào năm 1975.
Kéo dài ròng rã 4 năm, 8 tháng, 14 ngày, trải qua 202 phiên họp công khai và 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, Hội nghị Paris là cuộc đấu trí, đấu bản lĩnh quyết liệt giữa nền ngoại giao non trẻ với nền ngoại giao lão luyện của một siêu cường hàng đầu thế giớiCuộc đàm phán Paris trải qua ba giai đoạn. Giai đoạn một bắt đầu từ ngày 13/5/1968 đến 31/10/1968, ta đấu tranh buộc Mỹ phải chấp nhận chấm dứt mọi hành động chiến tranh chống Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ ngày 31/10/1968; chấp nhận việc triệu tập hội nghị về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam gồm 4 bên với sự tham gia của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Giai đoạn hai từ ngày 25/1/1969 đến giữa năm 1972, ta kiên quyết đòi Mỹ chấm dứt chiến tranh xâm lược, rút hết quân đội và vũ khí ra khỏi miền Nam Việt Nam, xóa bỏ chính quyền Sài Gòn, tôn trọng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam. Mỹ muốn chấm dứt chiến tranh nhưng đòi miền Bắc và Mỹ cùng rút quân, đòi duy trì khu phi quân sự và duy trì chính quyền Sài Gòn. Giai đoạn cuối cùng từ tháng 7/1972 khi Mỹ buộc phải quay lại bàn đàm phán sau các thất bại ở cả hai miền Nam Bắc. Tuy vậy, Mỹ vẫn nuôi hy vọng đạt được một thỏa thuận trên thế mạnh. Cuối tháng 12/1972, khi con át chủ bài cuối cùng của Mỹ - dùng B52 đánh phá hủy diệt Hà Nội và các thành phố lớn của miền Bắc - đã bị quân và dân ta đánh gục trong chiến thắng vang dội "Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không", Mỹ mới chấp nhận ký Hiệp định.

Thắng lợi nhất của Hiệp định Paris đó là việc Mỹ ký vào một văn bản pháp lý toàn diện, đầy đủ nhất công nhận các quyền cơ bản của dân tộc ta, trong đó Mỹ buộc phải cam kết “tôn trọng độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam”.Như vậy, Mỹ và tay sai ở miền Nam Việt Nam không còn có cơ hội lật lọng, tráo trở, phá hoại Hiệp định Paris duy trì độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước Việt Nam như đã từng phá hoại Hiệp định Geneva trước đây.
Hội nghị Paris và Hiệp định Paris đã góp phần quan trọng vào nỗ lực tạo nên bước chuyển chiến lược của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, từng bước buộc Mỹ phải đi vào giải pháp, chấm dứt ném bom miền Bắc, rút toàn bộ quân Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam. Hiệp định Paris còn góp phần ngăn chặn mọi âm mưu can thiệp trở lại của Mỹ khi toàn quân, toàn dân ta tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 với đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Kỷ niệm 40 năm ký kết Hiệp định Paris, chúng ta bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với những chiến sỹ đã không tiếc xương máu của mình để làm nên những chiến công chói lọi trên chiến trường, biết ơn những người đã tham gia vòng đàm phán đã kiên định mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, dồn tất cả tài năng, trí tuệ để giành chiến thắng cuối cùng cho nhân dân Việt Nam. Xin bày tỏ tấm lòng biết ơn sâu sắc đối với thế hệ cha anh đã cống hiến cuộc đời mình để có một Việt Nam giàu đẹp, thống nhất và phát triển như ngày hôm nay.

25/01/2014

Kiều hối về Việt Nam tăng – những dấu hiệu đáng mừng

Lê Quang
Theo báo cáo của Ủy ban Người Việt Nam ở nước ngoài- Bộ ngoại giao, lượng kiều hối về Việt Nam trong năm 2013 ước tính đạt 11 tỷ USD. Như vậy, kiều hối tăng gấp 10 lần từ năm 2001 với chỉ có 1,1 tỷ USD đến nay ước tính khoảng gần 11 tỷ USD.
Những thông số này phản ánh những tín hiệu đáng mừng cho sự phát triển đất nước.
Thứ nhất, đây là nguồn lực quan trọng cho sự phát triển của đất nước. Với số lượng ước tính liên tục tăng, lượng kiều hối là nguồn bổ sung ngoại tệ quan trọng góp phần đáng kể giảm mất cân đối trong cán cân thanh toán, cải thiện dự trữ ngoại hối, giảm sức ép tỷ giáLượng kiều hối trong những năm gần đây gần bằng lượng FDI thực hiện. Tuy nhiên, đây mới chỉ là số lượng thống kê chính thức lượng kiều hối gửi qua các ngân hàng. Trên thực tế, còn một số lượng lớn kiều hối gửi về nước bằng tiền mặt, hiện vật qua người thân, bạn bè không thống kê được. Với lượng kiều hối như vậy đã tác động tích cực trực tiếp đến các hộ gia đình và người thân trong nước giúp cải thiện cuộc sống, xây dựng nhà cửa và đầu tư sản xuất kinh doanh, tăng sức mua xã hội và góp phần tăng trưởng kinh tế.

Thứ hai, con số này thể hiện tinh thần đại đoàn kết dân tộc của người dân Việt Nam. Đây là truyền thống quý báu của nhân dân ta. Dù là sinh sống, làm việc ở nơi đâu trên thế giới thì mỗi người dân Việt Nam đều là con lạc cháu hồng, đều đau đáu tình cảm giành cho quê hương, đất nước, đều có khát khao xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp.
Thứ ba, điều này thể hiện hướng đi và những chính sách đúng đắn của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong việc thu hút lượng kiều hối, phát triển đất nước.
Với tinh thần đại đoàn kết dân tộc, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị kêu gọi triển khai công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài trong toàn bộ hệ thống chính trị, xem người Việt ở nước ngoài là bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam, là nguồn nội lực phát huy để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.  Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài Nguyễn Thanh Sơn khẳng định: "Từ khi thực hiện Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, các chính sách ban hành đã đáp ứng được nguyện vọng của bà con kiều bào. Gần 5 triệu kiều bào đang sinh sống tại 103 đất nước và vùng lãnh thổ trên thế giới đã góp phần quan trọng trong hoạt động chính trị đối ngoại, làm cầu nối giữa Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ nơi bà con sinh sống. Dân tộc Việt Nam với đức tính cần cù, chịu khó, trí tuệ, thông minh, đồng thời được sự quan tâm của Chính phủ, Đảng và Nhà nước thông qua các chính sách, các hoạt động tích cực, bà con rất tin tưởng, đồng lòng hướng về quê hương, đất nước với tầm lòng chân thành nhất và mong muốn nhìn thấy một đất nước Việt Nam giàu mạnh."
Trong những năm qua, Nhà nước đã điều chỉnh nhiều chính sách thông thoáng hơn trong việc thu hút nguồn kiều hối (bãi bỏ nhiều quy định về thuế, không hạn chế số lượng tiền, nhận và trả hàng bằng nguyên tệ, người nhận kiều hối không phải chịu thuế thu nhập đối với các khoản ngoại tệ từ nước ngoài chuyển về hoặc bắt buộc phải bán ngoại tệ cho ngân hàng, thông thoáng trong việc về thăm quê hương, mua nhà ở, đầu tư trong nước…). Hơn nữa, Đảng và Nhà nước tiếp tục lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của kiều bào để có những cơ chế chính sách, có những bước đi đúng hơn nữa, chính xác hơn nữa, tạo thuận lợi tối đa để bà con kiều bào tiếp tục củng cố và phát triển nguồn lực hết sức quan trọng này. Do vậy, bà con kiều bào ngày càng tin tưởng vào triển vọng phát triển đất nước, yên tâm đầu tư về nước để phát triển đất nước.
Với những tín hiệu đáng mừng như thế, hi vọng trong những năm tiếp theo lượng kiều hối về nước tiếp tục tăng, góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước, thể hiện tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc.




24/01/2014

Ai đã phá hoại Hiệp định Geneve?

Lê Quang
Hiệp định Genève 1954 là hiệp định được kí kết để khôi phục hòa bình ở Đông Dương. Các bên tham gia hiệp định bao gồm: Anh, Hoa Kỳ, Liên Xô, Trung Quốc, Pháp, Việt Nam dân chủ cộng hòa, Quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia. Hiệp định Genève đã ra tuyên bố chung trong đó chấm dứt chiến tranh, công nhận độc lập cho Việt Nam; tuyên bố giải pháp cho những vấn đề chính trị ở Việt Nam dựa trên cơ sở tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ sẽ cho phép người dân Việt Nam được hưởng nền tự do cơ bản thông qua kết quả tổng tuyển cử tự do sẽ được tổ chức tháng 7/1956.
Tuy nhiên, cuộc tổng tuyển cử đó đã không bao giờ diễn ra và người dân Việt Nam đã phải trả giá bằng 20 năm chiến tranh tàn phá đất nước mới có được sự độc lập, thống nhất đất nước hoàn toàn.

Câu hỏi đặt ra là ai đã phá hoại Hiệp định Geneve dẫn đến hậu quả nặng nề cho đất nước Việt Nam như vậy? Theo lẽ tư duy logic thông thường thì không khó trả lời câu hỏi này. Bên nào có lợi khi cuộc tổng tuyển cử không diễn ra thì bên đó chính là kẻ phá hoại. Và thực tế lịch sử đã chứng minh rõ điều này. Ngay từ đầu, Hoa Kỳ đã không tham gia ký kết Hiệp định này, điều này trái với những tuyên bố duy trì hòa bình trên thế giới của họ. Sau khi Hiệp định được ký kết, chính phủ Ngô Đình Diệm và quan thầy Hoa Kỳ tin chắc rằng nếu tổng tuyển cử diễn ra thì chiến thắng sẽ giành về chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh. Bởi lúc đó uy tín của chủ tịch Hồ Chí Minh và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa rất lớn, phù hợp lòng dân, đã lãnh đạo nhân dân đánh thắng giặc Pháp xâm lược với chiến thắng Điện Biên Phủ lẫy lừng năm châu. Hoa Kỳ thật sự rất lo lắng. Nếu Việt Nam dân chủ cộng hòa thống nhất đất nước sẽ là một liều thuốc tinh thần kích thích phong trào cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới đang mạnh mẽ tại thời điểm đó. Hoa Kỳ cần một con đê chắn làn sóng cộng sản phát triển xuống phía Nam. Như vậy họ chủ trương phá hoại hiệp định Geneve và thành lập chính phủ bù nhìn tại miền Nam Việt Nam. 

Bọn mày đem chém cả trăm lần cũng không hết tội

Người Hà Nội
Pháp luân công do ông Lý Hồng Chí, Trung Quốc lập ra. Khi bị Nhà nước Trung Quốc dẹp bỏ, một số chạy xuống nước ta và truyền bá tại đây. Không thể coi pháp luân công là một tôn giáo, cũng không thể coi là một hình thức sinh hoạt tín ngưỡng của người dân. Pháp luân công chủ trương khuyến khích những người tin theo tu tập theo các phương pháp “bí truyền” trong các “kinh sách” để rèn luyện sức khỏe và tinh thần. Có thời gian tổ chức này rêu rao đây là phương pháp chữa bệnh đạt hiệu quả cao. Thực chất, đây là một tổ chức mang hình bóng mê tín dị đoan, tà ma ngoại đạo, lừa phỉnh người dân bằng các hành động quái gở, múa may quay cuồng mà chúng cho là “phương pháp tu tập sức khỏe và chữa bệnh”. Chính vì vậy, sau một thời gian tin theo hình thức này tu tập để rèn luyện sức khỏe, nhiều người dân đã nhận thấy bản chất lừa lọc, dối trá của pháp luân công do đó đã từ bỏ tổ chức này. Hiện nay, ở Việt Nam chỉ còn một nhóm nhỏ người theo pháp luân công, đây chính là những đại đệ tử pháp luân công có lợi ích gắn với tổ chức này. Do đã lộ rõ bản chất, không lừa lọc được ai nữa, mất đi miếng cơm manh áo nên chúng đâm ra làm liều, chẳng còn biết “pháp danh”, “chính môn” mả mẹ gì nữa, câu kết với các nhà dân chủ rởm để mong nhận được chút đỉnh rơi vãi hòng sống qua ngày đoạn tháng.
Tuy nhiên những kẻ ngu xuẩn đời đời vẫn là những kẻ ngu xuẩn. Trong một phút nông nổi kiếm miếng ăn, chúng đã có những hành động phỉ báng đất nước, phỉ báng Bác Hồ kính yêu tại lăng Bác. Ngu xuẩn một cách lâng láo và xấc xược. Đúng là chó cùng đường dứt dậu. Vì những đồng bạc lẻ hôi hám mà làm chúng mờ mắt. Đáng thương thay. Chúng đâu có biết hành động của chúng là lợi bất cập hại. Hồ Chí Minh là anh hùng giải phóng dân tộc, nhờ bác mà đất nước chúng ta thoát khỏi cảnh xiềng xích nô lệ, vươn lên thành một quốc gia tầm cỡ thế giới. Lăng Bác, hai từ thật đỗi thân quen, chan chứa tình yêu thương của bao nhiêu thế hệ người dân Việt Nam đối với công lao của Người. Cũng thật tự hào biết mấy khi đây là biểu tượng của đất nước chúng ta, biểu tượng cho khát vọng độc lập, tự do, cho tinh thần “không có gì quý hơn độc lập”. Đây là điểm viếng thăm đầu tiên của biết bao đoàn khách quốc tế mỗi khi đến Việt Nam.

Thế mà mấy tên ngu xuẩn pháp luân công lại có những hành động phỉ báng Hồ Chí Minh. Là một con dân Việt Nam tại sao chúng mày lại không hiểu đến đạo lý đơn giản là uống nước phải nhớ nguồn. Lũ chúng mày có bị đem ra chém hàng trăm lần cũng không hết tội.

23/01/2014

Đừng như Trần Khải Thanh Thủy

Lê Quang
Gửi Uyên
Trong lúc nhà nhà, người người đang sắm sửa cho một cái tết cổ truyền đầm ấm, sum tụ bên gia đình, những người con xa quê hương, Tổ quốc hướng về mái nhà thân yêu, sum họp bên nồi bánh chưng thì trong nước, thì em lại có ước muốn ngược đời: trốn chạy khỏi đất nước thân yêu mình đang sinh sống để sống chui, sống nhủi bên trời Tây.
Trả lời phỏng vấn Trà My của đài VOA hôm 19-1-2014, em đã nói: "Uyên cầu cứu những ai có thể và có khả năng, nếu đem được Uyên và gia đình_ đem được ngày nào thì tốt ngày đó_ra khỏi cái ‘nhà tù lớn’ này, thì Uyên rất là cảm ơn".
Sao mà dại dột đến thế Phương Uyên ơi! Giữa lúc mọi người xa quê hương đang hướng về Tổ quốc thì em lại đòi bán rẻ tổ quốc để ra đi. Chẳng lẽ sức mạnh đồng tiền lớn đến thế sao? Ở quê hương mình, với người có năng lực như em nếu chịu khó suy nghĩ, chịu khó lao động thì sẽ có được cuộc sống khá giả, đầy đủ. Sao em không nghĩ được như thế như bao bạn bè em.
Chẳng lẽ sau những chiêu trò học đòi “làm dân chủ”, rồi những scandal ầm ỹ giới truyền thông mà em vừa bị mọi người vạch mặt là lừa dối chưa đủ để thức tỉnh em rằng phải sống sao cho xứng đáng với lương tâm mình. Những bài học về chị Trần Khải Thanh Thủy còn mới nguyên, mà thú thực, chị Thủy còn có thành tích chống Cộng lâu năm và bề dày kinh nghiệm, ấy vậy mà bây giờ chị sống sao ở trời Tây? Em còn nhỏ dại, em đừng quá hi vọng về những danh hão mà những con cáo quỷ quyệt hứa hẹn, tiêm nhiễm vào đầu em. Hi vọng càng nhiều thì thất vọng càng lớn.

19/01/2014

Thấy gì qua cuộc tuần hành tại Hồ Gươm ngày 19.1.2014


                               Hoa đất

         
Yêu nước là một nét văn hóa, điều này đã trở thành bản tính trong mỗi con người Việt Nam chân chính. Trước những vấn đề chính trị - xã hội nhạy cảm trong thời gian qua, lòng yêu nước trỗi dậy trong các tầng lớp nhân dân. Cổ súy, ủng hộ, tung hô, chê bai… tất cả đều phản ánh những suy nghĩ riêng của mỗi cá nhân đối với những hành động ngang ngược của nước láng giềng trong vấn đề tranh chấp Biển Đông.
Mấy ngày vừa qua, lợi dụng 40 năm ngày Trung Quốc chiếm Hoàng Sa nhóm chuyên ăn vạ No-U đã tích cực lợi dụng,  kích động người đi biểu tình ở Hồ Gươm. Có cả một công nghệ được các đối tượng triệt để lợi dụng, nào là mạng xã hội; rải tờ rơi; dùng thủ thuật kích động, xuyên tạc chính sách Nhà nước; dùng tiền, quần áo phát cho người đi biểu tình… Tuy vậy, so với những gì mà các đối tượng dự kiến, kết quả chỉ là lại sự thất vọng tràn trề cho những âm mưu đứng sau nó:
 Thứ nhất, số lượng người tụ tập chỉ khoảng vài chục người. Đây là những thành phần đã quá quen thuộc trong giới dân chủ cuội. Thực ra thì vì chung mục đích chống phá nên các nhà rân chủ này ở lại với nhau, còn nếu bình thường chúng đấu đá, xâu xé nhau là chuyện như cơm bữa. Vì có vài chục người, nên trên các trang mạng BBC, RFA… vốn là diễn đàn phát ngôn của các nhà rân chủ cũng không đăng tin bài nhiều về sự kiện này. Các thông tin đưa ra mang tính chung chung, và thường “chém gió” đẩy số lượng lên vài trăm người để đánh lừa dư luận. Theo lãnh đạo của cuộc tụ tập, đối tượng chủ mưu Nguyễn Lân Thắng cho biết: có những người đến từ rất xa như Thanh Hóa, Vinh, Quảng Trị, thậm chí có người từ Thành phố Hồ Chí Minh cũng đế́n tham dự lễ tưởng niệm. Chính xác thì đây là vài bác khiếu kiện được các đối tượng cho tiền, ngồi chây lỳ, cầm băng rôn, khẩu hiệu và ra về sớm. May mắn cho các bác khiếu kiện đã kiếm được ít tiền về quê ăn tết mà không tốn nhiều công sức.
 Thứ hai, sau nhiều lần kích động biểu tình quanh Hồ Gươm, so với các cuộc tụ tập trước đây, số lượng người đã giảm đáng kể. Thành phần học sinh, sinh viên tham gia cũng không xuất hiện. Điều này cho thấy, ý thức cảnh giác về yêu nước và lợi dụng lòng yêu nước để tiến hành các hoạt động gây rối đã được các tầng lớp nhân dân nhận ra, đặc biệt là lớp trẻ đã nhận ra trách nhiệm của mình trong việc lên án các luận điệu xuyên tạc của bọn phản động núp dưới danh nghĩa yêu nước. Thủ đoạn của No-U đã bị vạch mặt như những màn kịch vụng về, hết ý tưởng, không có tác dụng để đánh lừa người dân nên các đối tượng đã không thực hiện được mưu đồ kích động phá rối, gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân với Đảng, Nhà nước.

Trên bất kỳ phương diện nào, lòng yêu nước chân chính phải là một giá trị văn hóa sâu sắc, phù hợp với đạo lý, văn minh chứ không thể là sự lạm dụng để đánh bóng hoặc phục vụ mục đích cá nhân. Những chiêu trò lợi dụng lòng yêu nước của No-U đáng bị xã hội lên án và có chế tài xử lý sớm.  

TÍNH THỐNG NHẤT CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM


                                                     Hoa đất
Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi. Tính thống nhất của cộng đồng quốc gia - dân tộc Việt Nam đã hình thành từ lâu và trở thành bản tính của dân tộc. Thống nhất bên cạnh chống giặc ngoại xâm, với thiên nhiên khắc nghiệt mà rộng lượng còn là yêu cầu cấp thiết đấu tranh với âm mưu phá hoại, chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch. Thống nhất không chỉ thể hiện ở mục tiêu toàn vẹn lãnh thổ, mà còn được thể hiện qua tư tưởng, hành động, ý chí.
Lịch sử đã chứng minh rằng, trong thời điểm nào, bất kỳ thế lực nào phá hoại lại sự “thống nhất” ấy đều phải chịu những hậu quả nặng nề, bị lịch sử phủ định. Điểm qua một vài sự kiện:

        
1. Loạn 12 sứ quân đưa đất nước rơi vào cảnh cát cứ, hỗn loạn. Mười hai sứ quân bị Đinh Bộ Lĩnh tiêu diệt. Nước nhà thống nhất đã xuất hiện ngay từ chiến thắng của Ngô Quyền, nay trở lại thống nhất sau vài mươi năm phân liệt. Được như vậy, một phần hẳn là do tài trí của Tiên Hoàng, phần chính do lòng dân muốn thống nhất, không chịu chia cắt. Đây là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập trong nhân dân.




       2. Trịnh - Nguyễn phân tranh là thời kỳ phân chia giữa chế độ “vua Lê chúa Trịnh” ở phía Bắc sông Gianh (sử gọi là Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627 và kết thúc vào cuối thế kỷ 18 khi nhà Tây Sơn dẹp cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh. Nước Việt Nam bị chia cách hơn 100 năm. Nguyễn – Trịnh phân tranh làm yếu đất nước, làm khổ nhân dân. Cả nguyễn lẫn Trịnh bị Tây Sơn tiêu diệt chính vì cái tội làm phân tranh trước hết. Nước nhà trở lại thống nhất, sức mạnh tinh thần và vật chất dồi dào, nên ba mươi vạn quân Mãn Thanh tháo chạy mà không dám quay đầu.

  
3. Với âm mưu chia rẽ dân tộc, Pháp chia Việt Nam thành các vùng với chế độ cai trị khác nhau. Ở Miền Nam (Nam Kỳ), Sau khi Đế quốc Nhật Bản đầu hàng phe Đồng Minh thì Pháp mở cuộc tái chiếm Nam Bộ. Họ chủ trương chia cắt miền Nam để đáp lại tuyên bố chủ quyền thống nhất với miền Nam của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo âm mưu Pháp, Nguyễn Văn Thinh bày trò: lập chính phủ “Nam Kỳ tự trị” để chia cắt. Nam Kỳ tự trị sớm đưa Nguyễn Văn Thinh đến treo cổ bằng dây điện.

4. Hiệp định Giơnevơ 1954 về Đông Dương được ký kết đã kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và can thiệp Mỹ đối với ba nước Việt Nam, Lào, Campuchia. Chính quyền Ngô Đình Diệm, với sự giúp đỡ và có sự chỉ đạo của Mỹ, ra sức phá hoại Hiệp định Giơnevơ, từ chối hiệp thương với Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà về việc tổ chức tổng tuyển cử tự do trong cả nước để thống nhất Việt Nam trong thời hạn hai năm theo điều khoản của Hiệp định.
Đến hạn hai năm, tháng 7-1956, Diệm tuyên bố: “Sẽ không có hiệp thương tổng tuyển cử, vì chúng ta không ký Hiệp định Giơnevơ, bất cứ phương diện nào chúng ta cũng không bị ràng buộc bởi Hiệp định đó”. Bằng một loạt hành động trái với hiệp định, như bầy trò “trưng cầu dân ý” để phế truất Bảo Đại rồi suy tôn Ngô Đình Diệm làm Tổng thống (tháng 10-1955), tổ chức bầu cử riêng rẽ, lập quốc hội lập hiến (tháng 5 -1956), ban hành hiến pháp của cái gọi là “Việt Nam cộng hoà” (tháng 10-1956), Diệm đã trắng trợn từ chối và phá hoại việc thống nhất Việt Nam. Cuối cùng, Diệm bị giết chết trong tiếng nguyền rủa của toàn dân.


Nhìn sang các quốc gia láng giềng: tình hình chia rẽ dân tộc, phân chia quyền lực của các Đảng đối lập tại Thái Lan đang gây ra cuộc khủng hoảng nghiêm trọng kéo dài, ảnh hưởng đến các mặt đời sống xã hội thời gian qua.

Có thể nhận thấy rằng, ngay cả trong giai đoạn hiện nay, âm mưu chia rẽ dân tộc của các thế lực thù địch và phần tử xấu để phá vỡ tính “thống nhất” ấy luôn diễn ra thường xuyên, liên tục, thể hiện trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Một số phần tử trong nước núp bóng dưới danh nghĩa “yêu nước”, “bảo vệ dân oan”, “phong trào dân chủ”, “Mạng lưới Blogger”…  ra sức tiếp tay cho các hoạt động chống phá từ bên ngoài, hình thành xã hội dân sự theo kiểu phương Tây, kích động người dân biểu tình, hình thành những trào lưu đối lập… nhằm thực hiện thực hóa mưu đồ chia rẽ, phá vỡ tính “thống nhất” ấy.
Và liệu rằng: Số phận họ rồi sẽ ra sao?
                                                        



18/01/2014

Bản chất thật của Võ Văn Ái

Lê Quang
Có người từng nói rằng Võ Văn Ái là một con người cơ hội giả nhân giả nghĩa để trục lợi cá nhân quả thật cũng chẳng ngoa.
Lật lý lịch của Võ Văn Ái, người ta thấy Ái có quốc tịch Pháp, dân tộc Kinh, quê Thừa Thiên - Huế, là Phật tử. Ái là bác sĩ; viết văn, làm thơ, làm báo với các bút danh: Nguyễn Thái, Thi Vũ, Trần Phổ Minh..., và làm chính trị giật dây! Ái có 2 vợ; vợ bé là Penelope Faulkner (người Anh), có tên Việt là Ỷ Lan. Cuộc đời tình ái của thi sĩ Thi Vũ cũng rất phức tạp, đa đoan. Là Phật tử, Ái không từ nổi đam mê sắc dục và niềm đam mê này trở thành “bệnh lý” như “bệnh lý” chống lại dân tộc của Ái.
Nhưng cuộc đời chính trị của Ái mới đáng nói. Năm 1953, thấy Pháp sắp thua thì Võ Văn Ái lăm le theo Việt Minh, bị Việt Minh không nhận, đuổi về thì theo phe Ngô Đình Diệm để được du học. Khi có phong trào cứu trợ thuyền nhân vượt biển thì theo thầy Nhất Hạnh, cướp được trụ sở mà Đảng Cộng sản Pháp đã cho phong trào cứu trợ này mượn, thì lại hất thầy Nhất Hạnh luôn và biến thành cơ sở Quê Mẹ để tranh đấu cho nhân quyền kiểu Mỹ.
Ái mang danh Phật tự đấu tranh cho Phật giáo Việt Nam nhưng thật ra Ái chỉ lợi dụng Phật giáo để trục lợi và âm mưu chia rẽ, phá nát Phật giáo Việt Nam. Ái từng hết mực ca ngợi thầy Nhất Hạnh thì không lâu sau đó do chuyện ăn chia không đều trong vụ tổ chức thuyền cho người Việt Nam trốn ra nước ngoài Ái đã chẳng suy nghĩ mảy may dìm thầy Nhất Hạnh. Khi thấy xu hướng Huyền Quang, Quảng Độ được người Mỹ ưu ái thì Ái nhanh chân đi tắt đón đầu tâng Huyền Quang, Quảng Độ lên tận chín tầng mây như những ngôi sao sáng trên bầu trời Phật giáo Việt Nam mà kỳ thực là lợi dụng Phật giáo để chống Nhà nước. Với những hành động khôn ngoan, Ái nhanh chóng nhận được nhiều cảm tình của Huyền Quang, Quảng Độ và đã lừa gạt được không ít tăng, ni, phật tử ở hải ngoại. Ái được phong Giám đốc Phòng thông tin Phật giáo quốc tế, đặt dưới sự điều hành, chỉ đạo của Quảng Độ. Với vai trò mới, Ái tích cực tuyên truyền chống Việt Nam. Nhưng với bản chất cơ hội, Ái không trung thành với bất kỳ ai. Là Phật tử nhưng Ái đã phá tan nền Phật giáo Việt Nam trong nước và hải ngoại. Do có sự tham mưu, nhúng tay của Ái mà lần lượt những cao tăng có uy tín, có trình độ bị Quảng Độ hạ bệ. Trong bài phát biểu trước BBC, Ái đã phủ nhận thành tựu, vị thế của Phật giáo Việt Nam khi tổ chức thành công Đại lễ Vesak 2008 và đăng cai tổ chức Vesak 2014.

Gần đây, Ái bị vạch trần chuyện lem nhem tiền bạc, chuyện lợi dụng Phật giáo chống Cộng của Ái được NED tài trợ gần 1 triệu USD kể từ năm 2000 đến nay. Như vậy, với bản chất cơ hội, Võ Văn Ái đã hoàn toàn mất sự tín nhiệm của cộng đồng phật tử hải ngoại.

15/01/2014

NĂM 2013 NHÌN LẠI VẤN ĐỀ NHÂN QUYỀN Ở MỸ VÀ VIỆT NAM

                                                    Thành Đông

Năm 2013, là năm mà các mặt của đời sống thế giới có nhiều sự biến động lớn, nhưng đặc biệt nổi lên hai vấn đề lớn là vai trò của các nước lớn đóng trong đời sống chính trị thế giới và vấn đề nhân quyền. Trong khuôn khổ bài viết này tôi chỉ xin cùng trao đổi cùng bạn đọc về vấn đề “nhân quyền” ở Mỹ và Việt Nam trong năm qua.
Ở nước Mỹ, một sự kiện làm cả thế giới phải sửng sốt đó là vụ “scandal lịch sử” liên quan đến hệ thống do thám toàn cầu của Mỹ. Mọi chuyện bắt đầu từ ngày 05/06/2013, khi tờ “The Guardian” của Anh đưa tin Cơ quan An ninh quốc gia Mỹ (NSA) thu thập cuộc nói chuyện điện thoại của hàng triệu người dân Mỹ mỗi ngày. Đây là sự kiện là trấn động không chỉ trong nội bộ nước Mỹ mà trên toàn thế giới, vấn đề quyền con người và bí mật cá nhân đang được đặt ra. Ngay chính tại đất nước luôn đi truyền bá “ nhân quyền” trên khắp thế giới tự do - nước Mỹ, vấn đề bí mật cá nhân không được chính quyền sở tại tôn trọng, vì mục đích chính trị của nhà cầm quyền.
Ảnh:  Hệ thống do thám toàn cầu của Mỹ
Tiếp đến là sự bùng nổ thông tin trên khắp thế giới chứng tỏ trong khuôn khổ chương trình giám sát toàn cầu PRISM, NSA và Cục Điều tra Liên bang Mỹ (FBI) đã tiến hành do thám gần như tất cả các nước trên thế giới, trong đó có Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Iran, Cuba, Triều Tiên và tất cả các đồng minh của Mỹ như :Đức, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc…. có thông tin cho rằng tất cả các cuộc điện thoại của các Nguyên thủ các nước đồng minh của Mỹ đề bị hệ thống này giám sát. Ngày 09/06/2013 , Edward Snowden, cựu nhân viên tình báo Mỹ chính thức xuất hiện trước tòan thế giới, là người cung cấp thông tin về PRISM  theo tiết lộ của nhân vật này thì toàn bộ hệ thống máy chủ của các tập đoàn truyền thông lớn ở Mỹ như Verizon, Yahoo, Google… đã bị CIA và NSA trực tiếp xâm nhập theo chương trình PRISM  nhằm kiểm soát các thông tin kinh tế, tài chính, xã hội, an ninh, quốc phòng… ở trong và ngoài nước Mỹ. Chương trình nghe lén toàn cầu này đã làm hoen ố “thanh danh” của nước Mỹ vốn luôn rao giảng về “dân chủ”, “nhân quyền” và “tự do”.
Ảnh: Edward Snowden
 Như vậy có thể thấy Mỹ không chỉ xâm phạm đến “nhân quyền” của người dân Mỹ mà còn vi phạm nghiêm trọng quyền con người trên toàn thế giới. Còn trong cái sự nghiệp gọi là “gìn giữ hòa bình”, “tiêu diệt khủng bố” để bảo vệ thế giới tự do, Mỹ tiếp tục sa lầy vào các cuộc chiến vô nghĩ là hàng nghìn dân thường thiệt mạng. Vậy vấn đề nhân quyền của Mỹ được đặt ra ở đây là gì? Khi “nhân quyền” của chính người dân Mỹ còn không được đảm bảo thì “nhân quyền của những  công dân toàn cầu liệu có được Mỹ đặt ra và coi trọng?
Năm 2013 , cũng đánh dấu một bước quan trọng đối với chính phủ và người dân Việt Nam, khi Đại Hội đồng liên Hợp Quốc khóa 68 tiến hành bỏ phiếu bổ sung 14 quốc gia thành viên mới trong tổng số 47 thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc (United Nations Human Rights Council) nhiệm kỳ 2014-2016 . Với số phiếu ủng hộ 184 trên tổng số 192 phiếu bầu Việt Nam lần đầu tiên trúng cử Hội đồng nhân quyền Liên Hợp quốc nhiệm kỳ 3 năm (2014-2016) cùng với các nước Nga, Trung Quốc, Cuba, Anh, Pháp, Algeria, Arab Saudi, Maldives, Macedonia, Mexico, Mococco, Namibia và Nam Phi.
Ảnh: Các nước chúc mừng Việt Nam trúng cử Hội Đồng nhân quyền LHQ

Báo  “Washington Time” đưa tin ngay sau khi kết thúc cuộc bỏ phiếu, Việt Nam là tuy là nước lần đầu trúng cử Hội Đồng nhân quyền Liên Hợp quốc nhưng trúng cử với số phiếu cao nhất trong 14 thành viên mới được bầu lần đầu. Sự ủng hộ của các nước trong LHQ thể hiện sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế về thành tựu đảm bảo “nhân quyền của Việt Nam.
Thực tế, ở Việt Nam các quyền tự do, dân chủ của công dân luôn được đảm bảo, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận được đề cao. Đặc biệt là chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước Việt Nam với số đối tượng chống đối núp dưới danh nghĩa “các nhà dân chủ”, với những tội lỗi của số “nhà dân chủ” với nhân dân Việt Nam, Nhà nước Việt Nam hoàn toàn có thể xử lý theo pháp luật Hình sự Việt Nam. Tuy nhiên với chính sách khoan hồng và luôn đặt vấn đề giáo dục cải tạo những con người lầm đường lạc lối trở về với cộng đồng…. Vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo cũng được đảm bảo theo pháp luật Việt Nam….
Ảnh: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang chúc mừng Phật giáo Việt Nam
Năm 2013 , thực sự qua những phân tích trên chúng ta có thể thấy vấn đề nhân quyền của Mỹ và Việt Nam có sự khác biệt. Phải chăng đây là sự khác biệt về mặt trình độ phát triển kinh tế hay đời sống của con người ở mỗi nước? hay là do vấn đề ý thức hệ và tư duy của nhà cầm quyền mỗi nước?