Bài mới nhất

30/04/2018

30/4 NGHĨ VỀ HÒA HỢP, HÒA GIẢI DÂN TỘC

Hòa hợp, hòa giải dân tộc

Cuộc chiến tranh Việt nam đã kết thúc 43 năm, nhưng vấn đề hòa hợp, hòa giải dân tộc xem ra còn rất phức tạp. Bởi, có quá nhiều yếu tố ảnh hường, thậm chí là gây trở ngại, Tuy nhiên, không có nghĩa là không thể, không bao giờ hòa hợp được giữa những người con cùng dòng máu lạc hồng, con rồng cháu tiên, cùng thờ chung một đất Tổ vua Hùng. Tổ quốc Việt Nam thân yêu vẫn giang rộng vòng tay đón chào những người con đất Việt xa xứ dù quá khứ ra sao, hiện tại thế nào, nay muốn trở về với đất mẹ. Vì thế, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn coi Kiều bào là một bộ phận khăng khít không thể tách rời của đại gia đình dân tộc Việt Nam và chưa bao giờ từ bỏ những người Việt tha hương và sẵn sàng chào đón nếu những người con xa tổ quốc thực sự muốn gắn kết cùng cộng đồng dân tộc.

Chúng ta đều biết rằng, những biến cố đau thương trong quá khứ của thập kỷ 60-70 của thế kỷ trước, những sứ mệnh lịch sử của dân tộc đã tác động đến tình hình chính trị xã hội của đất nước, mà cuộc kháng chiến 20 năm và xa hơn nữa là cuộc kháng chiến 30 năm chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta, đã kết thúc bằng thắng lợi vẻ vang tháng 4/1975. Lần đầu tiên trong lịch sử quân xâm lược đã bị tống cổ ra khỏi bờ cõi, một minh chứng hùng hồn tinh thần quật cường vì độc lập tự do của dân tộc Việt và nay giang sơn đã thu về một mối.

Thế nên, vì hoàn cảnh khách quan đất nước vẫn còn có những người trước kia thuộc về bên kia chiến tuyến, họ là người Việt Quốc gia đã một thời phục vụ cho ngoại bang, chống lại sự nghiệp giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, rất nhiều người sống ở trong nước và một bộ phận không nhỏ sống ở nước ngoài mang danh “tỵ nạn” cộng sản, cùng với với nhiều lý do khác nhau nên cũng có rất nhiều người Việt đang sống và làm ăn ở nước ngoài, tổng số lên tới khoảng gần 4,5 triệu người.

Có một thực tế không thể phủ nhận, một bộ phận kiều bào ở nước ngoài chưa thực sự hiểu biết rõ về chính sách về Đảng, Nhà nước VN, phần vì thiếu thông tin, có những người vì thù hận, lại có những kẻ dã tâm chính trị, cùng các thế lực quốc tế lợi dụng để chống Việt Nam… Tựu chung lại, họ là người Việt. Thế nên, dù ai có “Nói ngả nói nghiêng” thì dòng máu lạc hồng vẫn chảy trong huyết quản của những người dân Việt ở quê nhà và cùng những người Việt đang sống đâu đó trên Qủa đất này đều giống nhau, đều là máu đỏ da Vàng của dân tộc Việt Nam. Vì thế, người dân Việt Nam đã từng khẳng định một chân lý đã trở thành bất hủ rằng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Tổ Quốc Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn song chân lý đó không bao giờ thay đổi”.

Thế nên, việc hòa hợp dân tộc là rất cần thiết, và rất cấp bách lúc này, để dòng máu Lạc Hồng của người Việt cùng chảy qua một trái tim, hòa chung cùng một nhịp đập, để con dân đất Việt hòa hợp thành một khối thống nhất, để kiến thiết đất nước mạnh giầu, đủ khả năng bảo vệ giang sơn gấm vóc mà tổ tiên, cha ông để lại. Tuy nhiên, việc thực hiện hòa hợp thật sự xảy ra nếu như cả hai bên cùng biết khoan dung, độ lượng, ngồi lại với nhau và bỏ qua những gì đã xảy ra trong quá khứ, cho dù đó là lỗi của bên này hay bên kia.

Ai cũng biết, Chiến tranh là đau thương, mất mát, cuộc sống tiêu điều, nhân tâm lý tán, đất nước nát tan điều đó chẳng ai mong muốn. Tuy nhiên, trong công cuộc hòa hợp này, không bao giờ, bất cứ ai được phép phủ nhận cuộc kháng chiến thần thánh chống giặc ngoại xâm giành độc lập tự do cho dân tộc và thống nhất đất nước, đó là một quyết sách đúng đắn của người Việt Cộng sản. Đó là, thể hiện lòng yêu nước và tinh thần dân tộc Việt không chịu khuất phục trước cường quyền. Đất nước Việt Nam nhỏ bé suốt chiều dài lịch sử 4000 năm luôn là nạn nhân của những cuộc xâm lăng của ngoại bang, người dân Việt thấu hiểu quá nhiều về chiến tranh và giá trị của một nền hòa bình.

Đau thương, mất mát trong chiến tranh giành độc lập dân tộc là quá lớn, hậu quả mà chúng ta phải hứng chịu là quá nặng nề, Thế nên, ai đó cứ bảo thủ, giữ mãi sự chia rẽ, nuôi dưỡng mãi hận thù đó là hành vi, một trong những nguyên nhân, để khoét sâu thêm nỗi đau của dân tộc, nỗi đau chung đó cần phải được hàn gắn sớm được gỡ bỏ. Tuy nhiên, đáng tiếc thay vì hàn gắn, có một thực tế không thể phủ nhận, đây đó vẫn có một số người cố tình “Đào bới lịch sử”, họ “Bới lông tìm vết” Cố tìm những thứ mà mình không có, để đảo ngược lịch sử, gợi lại vết thương cũ tuy đã lành sẹo nhưng vẫn còn nhức nhối về sự chia rẽ trong lòng dân tộc, nay đang nỗ lực để “Hóa giải” để hòa hợp dân tộc.

Vì thế, đào bới lịch sử là tạo nên hận thù, xây thêm hố ngăn cách cùng những toan tính sai lầm, đó là tội ác, càng làm cho đất nước bị suy yếu. muốn đất nước ổn định và phát triển, chỉ còn cách duy nhất là đoàn kết dân tộc để cùng chung tay xây dựng đất nước Việt hùng cường. Vì thế, người dân Việt trong và ngoài nước cần có sự đoàn kết để phát triển kinh tế, xây dựng đất nước, để sớm có tiềm lực quốc phòng hiện đại, sớm đưa nước ta trở thành cường quốc hùng mạnh. theo đúng nghĩa để bạn bè kính nể, kẻ thù không thể bắt nạt theo kiểu “Cá lớn nuốt Cá bé”.

Cuộc chiến đã chấm dứt 43 năm, nhân dân và Nhà nước Việt Nam đã từ lâu không hề nhắc đến tội lỗi và cũng chẳng ai thù hằn các cá nhân đã một thời lầm lỗi. Ngày chiến thắng 30/04/1975 là ngày vui chung của toàn dân tộc, ngày hội của non sông thống nhất. Hôm nay, đất nước thanh bình nhân dân đang sống trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc, đang chung tay, chung sức, đồng lòng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thì chẳng có lý do gì mà khơi lại quá khứ đau thương của cá nhân và của cả dân tộc này.

Mặc dù trong suy nghĩ của nhiều người còn có những khác biệt về nhận thức, cách nhìn nhận nhiều vấn đề “Trong và sau cuộc chiến”, tuy nhiên, những mặc cảm của quá khứ cũng đã đến lúc được rũ bỏ, những hận thù và sự thiếu hiểu biết lẫn nhau cũng cần hóa giải. Vì thế, người Việt hiện nay đang cần đến nhau và vì nhau hơn lúc nào hết, để đại đoàn kết dân tộc thành một khối thống nhất, có đầy đủ khả năng và sức mạnh để kiến thiết đất nước, chống kẻ thù chung bảo về giang sơn, gấm vóc của tổ tiên, cha ông để lại.

Tống Giang


CÓ THỰC SỰ LÀ VÌ NGƯỜI NGHÈO?

Trang tin facebook "Tin mừng cho người nghèo"


Lâu nay một bộ phận người Công giáo lan truyền, chia sẻ về trang mạng với tên gọi “Tin mừng cho người nghèo” cho rằng đây là trang mạng lan truyền những lời răn dạy của Đức Chúa và những tin, hoạt động về giáo hội,hoạt động của Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn. Vậy thực sự mục đích hoạt động của trang mạng này có đúng với cái tên của trang này đã đăng tải. Và người đứng lập ra trang mạng này hoạt động vì mục đích gì?

Được biết, trang mạng "Tin mừng cho người nghèo" (viết tắt là "GNsP" - "Good News for the Poor", địa chỉ truy cập http://www.tinmungchonguoingheo.com/) được thành lập ngày 16/4/2015 bởi  một số linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn (trực thuộc Tổng Giáo phận Thành phố Hồ Chí Minh, có trụ sở tại 38 Kỳ Đồng, Phường 9, Quận 3). Người cố vấn cho trang là linh mục Anton Lê Ngọc Thanh; Giám đốc điều hành là linh mục Phaolô Lê Xuân Lộc; Phó Ban điều hành là linh mục Giuse Trương Hoàng Vũ.

Những vị linh mục như Lê Ngọc Thanh, Trương Hoàng Vũ lâu nay được biết đến là các linh mục có quan điểm chính trị cực đoan, nhiều lần thể hiện quan điểm chống đối Đảng, Nhà nước Việt Nam. Hàng tuần, các linh mục này tổ chức "livestream" chuyên mục "Cà phê sáng" trên trang mạng xã hội Facebook "Tin mừng cho người nghèo"(https://www.facebook.com/tinmungchonguoingheo/), kênh YouTube AmenTV (https://www.youtube.com/channel/UCPAiAaxutF-or1aFjSmQytw/featured) có nhiều nội dung xuyên tạc, chống đối đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước.

Cùng với linh mục Giuse Đinh Hữu Thoại, thư ký Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, phụ trách chính phòng Công lý và Hòa bình Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, các linh mục này định kỳ tổ chức hoạt động "Tri ân Thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa" (khám chữa bệnh, phát quà, tiền, giao lưu văn nghệ, mời cơm những người trước đây là quân nhân quân đội Sài Gòn) thực chất là hoạt động tập hợp lực lượng những đối tượng cực đoan, chống đối chính trị trong nước và tuyên truyền về chế độ Sài Gòn, quân đội Sài Gòn trong cộng đồng, nhất là thanh niên tín đồ công giáo.

Bên cạnh các tin, bài tuyên truyền hoạt động của Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn, trang "Tin mừng cho người nghèo" thường xuyên phát tán tin, bài chống Nhà nước Việt Nam. Và không ngạc nhiên khi trang mạng này thường xuyên  bóp méo, xuyên tạc sự thật, xuyên tạc về cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng do Đảng và Nhà nước ta thực hiện; tuyên truyền, cổ vũ cho các đối tượng vi phạm pháp luật Việt Nam đang bị cơ quan chức năng xử lý; vu cáo Việt Nam không có tự do, không có dân chủ, không có nhân quyền hay ủng hộ cho các hoạt động chống phá đất nước của những kẻ đội lốt dân chủ, những thành viên của Việt Tân như Phạm Thanh Nghiên, Đặng Hữu Nam, Hoàng Bình,...

Và ngày hôm nay, 43 năm sau khi đất nước vắng tiếng súng, trang mạng này đã tỏ ra sự lạc lõng với hàng chục triệu người dân Việt Nam khi đăng tải bài viết “TA ĐÃ THẤY GÌ TRONG ĐÊM NAY ?” và cho rằng: “43 năm sau ta nhìn một đất nước tan hoang, biển mất, rừng chẳng còn, anh em, cha con, xếp hàng tranh nhau đi làm nô lệ xứ người ! người ở lại gánh một chồng nợ công trên trời rơi xuống ! người nghèo nối đuôi nhau đòi công lý khắp nơi, những khoa, những bệnh viện ung bướu đầy ắp hơi người không chỗ chen chân”... Vậy đấy, mang danh nghĩa là “Tin mừng cho người nghèo” nhưng bản chất trang mạng này đã và đang phục vụ cho hoạt động của những vị chức sắc cực đoan thực hiện các hoạt động chống phá đất nước mà thôi.

Đức Giáo hoàng Biển Đức (Benedict) XVI trong Huấn từ và Sứ Điệp gửi Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 2009 đã nói “Người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”. Thư chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam năm 1980 cũng đã xác định đường hướng mục vụ của chức sắc và tín đồ công giáo Việt Nam là “Sống phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc đồng bào”. Hoạt động của một số linh mục Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn trên trang mạng "Tin mừng cho người nghèo" là lạc lõng và xa lạ với những đường hướng đó. Chúng tôi mong rằng những hành động đó cần phải chấm dứt để tránh làm xấu đi hình ảnh đồng bào công giáo Việt Nam nói chung và đồng bào công giáo Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và những kẻ đội lốt linh mục đó cũng cần phải có hình thức xử lý nghiêm minh về những hoạt động của mình!

Tống Giang


NGUYỄN NGỌC GIÀ XEM NGÀY 30/4 LÀ “SIÊU THẢM HỌA”

Ảnh cắt từ bài đoạn phỏng vấn Nguyễn Ngọc Già đăng tải trên trang Dân làm báo

Với mỗi người Việt Nam, ngày 30/4/1975 là một ngày lịch sử trọng đại, là biểu tượng sáng ngời của Chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, đỉnh cao của khí phách và trí tuệ của con người Việt Nam. Đó là chiến thắng của nội lực Việt Nam, của truyền thống văn hóa dân tộc, của sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta, đồng thời là sự ủng hộ giúp đỡ chí tình của bạn bè quốc tế, của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, của nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới. Đó là ngày mà chiến tranh dần đi vào dĩ vãng, đất nước sạch bóng thù xâm lược, hòa bình trở lại trên toàn cõi Việt Nam. Đó là ngày hòa hợp dân tộc, từng gia đình và cả dân tộc sum họp dưới mái nhà Việt Nam, người một nước cùng nhìn về một hướng, cùng chung một con đường, hóa giải xung đột, xóa bỏ hận thù, giải phóng nội lực để cùng nhau bước vào kỷ nguyên mới: Kỷ nguyên hòa bình, thống nhất, độc lập, tự do cùng đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước đàng hoàng hơn, to đẹp hơn

Trong những ngày này trên cả dải đất hình chữ S quê hương Việt Nam đang long trọng chuẩn bị kỷ niệm 43 năm đất nước thống nhất (30/4/1975-30/4/2018), ngày mà đất nước “Nam Bắc một nhà”. Chiến thắng 30/4 là một trong những sự kiện và mốc son chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta và đó là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu cũng như tinh thần chiến đấu anh dũng, kiên cường vượt qua mọi khó khăn của toàn thể nhân dân Việt Nam và sự ủng hộ giúp đỡ của bạn bè quốc tế. Được sống một cuộc sống hòa bình, độc lập và tự do và đất nước ngày càng ổn định và phát triển là niềm vinh dự và tự hào của mỗi con người Việt Nam. Biết bao xương máu của những thế hệ cha anh đã anh dũng hi sinh để chiến đấu lại quân xâm lược, bảo vệ cho đất nước được vẹn toàn và thống nhất. Có trải qua những năm tháng chiến tranh, chứng kiến cảnh đất nước bị chia cắt mới thấy ý nghĩa to lớn của chiến thắng lịch sử, chiến thắng của sự đoàn kết, đất nước “Nam Bắc một nhà”, chiến thắng 30/4 và cảm nhận được hết giá trị của những năm tháng hòa bình, thống nhất, toàn vẹn Tổ quốc.

Ấy vậy mà, những ngày qua trên các trang mạng của những tổ chức, cá nhân không có thiện chí, chống phá Việt Nam lại đăng tải những bài viết, những đoạn phỏng vấn để xuyên tạc về ngày 30/4 lịch sử của dân tộc, xuyên tạc, phí bảng về những thành quả của Đảng, Nhà nước trong những năm qua với cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan. Điển hình đó là trên trang mạng lề trái Dân làm báo đã đăng tải đoạn phỏng vấn dài hơn 14 phút về blogger chống phá đất nước Nguyễn Ngọc Già với tựa đề: “Nguyễn Ngọc Già: Vì sao ngày 30/4 là "siêu thảm họa"?”. Xuyên suốt đoạn phỏng vấn không ngạc nhiên khi Nguyễn Ngọc Già vẫn thể hiện đúng bản chất của một kẻ tuyên truyền, xuyên tạc chống phá đất nước, một kẻ vừa phải ngồi tù 3 năm về tội tuyên truyền chống phá đất nước và đang phải chấp hành 3 năm quản chế ở địa phương. Nguyễn Ngọc Già đã đi ngược lại với cả dân tộc Việt Nam khi cho rằng ngày 30/4 là “siêu thảm họa” cùng với đó, y viện dẫn hàng loạt những vấn đề tiêu cực của xã hội để đưa cái nhìn phiến diện, quy kết là do sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, do chúng ta đi theo con đường xã hội chủ nghĩa. Lẽ nào Nguyễn Ngọc Già muốn được sống ở thiên đường “dân chủ” ở Mỹ, các nước phương Tây với súng đạn, khủng bố đẫm máu hơn là cuộc sống hòa bình như ở Việt Nam hay sao?

 Mỗi người dân Việt Nam chúng ta ai cũng đều hiểu rằng, tiếng súng đã lùi xa được 43 năm và trong suốt quãng thời gian này, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần đoàn kết, yêu nước và vượt qua mọi khó khăn của nhân dân ta, Việt Nam ngày càng ổn định, phát triển và khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế trên tất cả các lĩnh vực và cho thấy bản lĩnh của dân tộc Việt Nam tuy là đất nước “nhỏ nhưng không bé”. Và trong giai đoạn hiện nay, tinh thần chiến thắng 30/4 đang cổ vũ mỗi con người Việt Nam chúng ta cùng nhau phấn đấu đạt được mọi thành tích trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam ngày càng giàu

Mong rằng, với tinh thần chào mừng kỷ niệm 43 năm thống nhất đất nước, ngày lịch sử của mỗi người con đất Việt, mỗi chúng ta được sống trong cuộc sống hòa bình như ngày nay càng quý trọng những ngày tháng hôm nay, càng biết ơn công lao và sự hi sinh của bao thế hệ đi trước cũng như trân trọng những thành quả to lớn có được sau hơn 30 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và tinh thần đoàn kết, yêu nước của nhân dân ta. Còn đối với những kẻ đã và đang lợi dụng những ngày trọng đại của đất nước để tiến hành các hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc chống phá đất nước như Nguyễn Ngọc Già và đội quân dân chủ thì sẽ mãi là những kẻ cô độc và lạc lõng mà thôi. Và nếu không muốn phải bóc lịch thêm một lần nữa, Nguyễn Ngọc Già nên cẩn trọng với luận điệu xuyên tạc của mình!

Tống Giang 

VIẾT CHO NGÀY "LỊCH SỬ" CỦA DÂN TỘC

Thời khắc ngày 30/4/1975 đánh dấu ngày toàn thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Đại thắng mùa xuân năm 1975 đã làm thất bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược và ách thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ ở miền Nam, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang cuộc chiến tranh cứu nước lâu dài nhất, khó khăn nhất và vĩ đại nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của nhân dân ta , là trang sử hào hùng, chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc. Quân và dân ta đã đánh thắng kẻ thù lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tất cả đã chứng minh trí tuệ và tài thao lược của Đảng ta trong lãnh đạo và chỉ đạo chiến tranh cách mạng, cũng như chứng minh tinh thần quật khởi của người dân Việt Nam trong đấu tranh chống ngoại xâm.

Giờ đây, giữa trăm vàn bộn bề của cuộc sống, chúng ta – những người dân Việt Nam yêu nước vẫn nhớ đến ngày tháng lịch sử này, chúng ta vẫn mãi tự hào và biết ơn sự hy sinh to lớn của các anh hùng, các thế hệ cha ông ta đã chiến đấu anh dũng vì độc lập tự do và thống nhất Tổ quốc. Chúng ta càng tự hào, tin tưởng vào sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt tài tình của Đảng cộng sản Việt Nam, vào tinh thần quật cường bất khuất và trí thông minh, sáng tạo của dân tộc ta, của quân đội ta.

Thế nhưng vẫn có những kẻ ngược đường, ngược lối như Nguyễn Ngọc Nam Phong và đám “rận chủ” mặc dù được sinh ra, dung dưỡng trong bầu không khí hòa bình tự do – là kết tinh xương máu của dân tộc, ăn cơm uống nước đất việt nhưng quay lại trở mỏ cắn cánh xuyên tạc lịch sử dân tộc. Điển hình như Nguyễn Ngọc Nam Phong với phát ngôn động trời “là cuộc chiến phi nghĩa, là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, “ngày tang thương” của dân tộc, miền Bắc xâm lược miền Nam…). Với ý đồ đổi trắng thay đen, chúng (lú linh mục biến chất và đám “rận chủ”) muốn gieo vào đầu thế hệ trẻ, những người không được trực tiếp chứng kiến lịch sử một hình ảnh Việt Nam cộng hòa không còn máu lạnh, ác thú như những gì chúng đã làm

May mắn là những nhân chứng sống của lịch sử vẫn còn đó, họ là “nguồn tư liệu” vô giá để minh chứng cho sự tàn độc của chế độ tay sai Việt Nam Cộng hòa, sự phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược, và trí, đức của toàn Đảng, toàn dân. Trong số họ có cả những tướng, tá từng phục vụ trong chế độ Việt Nam cộng hòa. Ông Nguyễn Hữu Có (1925-2012), từng giữ chức Phó thủ tướng, kiêm Tổng trưởng Quốc phòng, đồng thời là Tổng tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa là một minh chứng điển hình

Trong một chia sẻ mới đây ông nói “Những ngày sau đó, tâm trạng của tôi thật nặng nề. Là sĩ quan cao cấp nhất trong quân đội, tôi chắc chắn sẽ phải đi học tập cải tạo. Tôi có mười hai đứa con, một mình vợ tôi sẽ phải xoay xở lo cho chúng. Thế rồi như những gia đình khác, chúng tôi cũng phải chia sẻ với cộng đồng những khó khăn của một thành phố mới giải phóng. Những năm tôi đi học tập, vợ tôi ở nhà làm đủ thứ nghề từ thêu thùa, may vá, gia công hàng để nuôi con. Rồi tôi trở về, rất lâu mới trở về, thành công dân như mọi công dân khác, một người lao động đúng nghĩa. Với chiếc mô-bi-lết cà tàng, tôi đi giao hàng của gia đình gia công, rồi ra vũng Tàu thu mua chế biến mực, xuất khẩu đi nước ngoài. Cuộc sống dần trở về nhịp điệu bình thường của nó, ông Trung tướng Tổng trưởng Quốc phòng lại trở về làm dân, lao động chân chính để sống như muôn triệu người khác. Có những ngày chạy xe máy đi giao hàng tận Bình Dương, gió mát dọc đường khiến tôi thanh thản. Thanh thản trong sự lao động nuôi sống gia đình. Quyền lực đã là dĩ vãng. Ra đường người ta chào mình là bác là ông, thật sự tôi thấy hạnh phúc của cuộc đời này nó bình dị và giản đơn nhất là khi ta làm một con người bình dị. Ngoài giờ cho công việc, tôi tham gia chuyện từ thiện với bà con khu phố, chăm mấy chậu lan, an nhàn với tuổi già. Tôi là tín hữu đạo tin lành, đọc kinh, đi lễ với tôi là niềm vui lớn.. Không còn chiến tranh, không còn bom rơi đạn nổ trên quê hương mình là điều lớn nhất mà việc kết thúc chiến tranh mang lại.”

Có thể nói, dù các thế lực thù địch luôn cố gắng đổi trắng thay đen, thế nhưng lịch sử dân tộc Việt Nam không chỉ tồn tại trên những trang giấy, nó đã thấm vào lòng đất, vào từng con đường, vào mỗi trái tim người Việt và đó cũng là lý nó không thể “thay đổi”

LÊ PHAN


NGUYỄN NGỌC NAM PHONG - NGÔ QUANG KIỆT

Linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong

Còn nhớ, cách đây đúng 10 năm. Vào ngày 20/9/2008, Ngô Quang Kiệt (lúc đó đang đương chức Tổng Giám mục) với câu nói hàm hồ, phỉ báng dân tộc “Chúng tôi đi nước ngoài rất nhiều, chúng tôi rất là nhục nhã khi cầm cái hộ chiếu Việt Nam", đã nhận được sự phẫn nộ của hơn 80 triệu dân, và kết quả như nhiều triệu triệu người dân Việt Nam yêu nước đã thấy Vatican cũng không thể đỡ lời cho ông Kiệt, ông ta đã phải trả giá bằng chính tương lai và “cuộc sống của mình. Một kết thúc như nhiều người nhận xét là vẫn có hậu, đáng phải tử hình

Điểm qua một số ý kiến của người dân tại thời điểm đó:

Kính chào Tổng Giám Mục! Tôi là một người Việt Nam! Tôi chỉ mới chính thức có được quyền công dân chưa được bao lâu, nhưng tôi tự hào về điều đó: Tự hào vì là công dân Việt Nam, đất nước có một trang lịch sử hào hùng. Tự hào vì được là con cháu của nòi giống Tiên Rồng cao quý từ bao đời nay. Và tự hào khi được là con dân của Bác Hồ kính yêu! Thiết nghĩ, ông cũng là một công dân Việt Nam như tôi, ông lại hơn tôi rất nhiều thứ. Ông lớn tuổi hơn tôi, chắc hẳn phải suy nghĩ chín chắn hơn tôi. Hơn nữa, ông lại là một Tổng Giám Mục, là người dẫn dắt toàn thể giáo dân Thủ Đô theo con đường đúng đắn. Thế mà ông lại bảo "nhục nhã khi cầm tấm hộ chiếu Việt Nam" ư? Khi nghe câu nói ấy của ông trên TV, tôi thật sự không tin vào tai mình nữa! Ông có biết rằng để gìn giữ được đất nước này, biết bao người đã phải hy sinh xương máu hay không? Ông có biết rằng để xây dựng đất nước được như ngày hôm nay biết bao người đang phải cố gắng ngày đêm hay không? Thật sự không thể tin được là lại có một người Việt Nam dám nói những câu như vậy. Huống chi người đó lại là ông, một Tổng Giám Mục có uy tín tại Thủ Đô của Việt Nam. Những người nước ngoài khi nghe tin này, chắc là họ phải buồn cười lắm!; 

Hay: "Với câu tuyên bố "nổi tiếng" của ông hôm 20/9, xin hỏi lại ông Ngô Quang Kiệt mấy câu: 1. Nếu xấu hổ vì phải cầm hộ chiếu quốc tịch Việt Nam khi ra nước ngoài, vậy ông do ai sinh ra? Thân sinh của ông có phải người Việt Nam không? Một người chê cả nguồn gốc của mình, vậy họ là giống gì? Người Việt Nam có câu: "Con không chê cha mẹ khó...". Chê cười cả gốc gác, thân sinh của mình, vậy ông phải chăng là kẻ bất hiếu? 2. Trải qua bao nhiêu cuộc chiến tranh chống ngoại xâm, đất nước Viêt Nam mới được độc lập, tự do như ngày nay. Nếu ông xấu hổ vì làm người Việt Nam thì xin hỏi ông, trong những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm trước đây, bao nhiêu người đã ngã xuống, lúc đó ông đang ở đâu? Ông có đóng góp gì cho Tổ quốc không? Nhà tôi đã hy sinh ba người con, có hai anh còn chưa kịp yêu, còn đang là học sinh phổ thông. Ông được hưởng thành quả của những người đã ngã xuống vì Tổ quốc mà ông lại chửi lại Tổ quốc mình? Ông có phải là kẻ bất nghĩa không? 3. Ông là giáo sỹ, thường đi giảng giải về niềm tin nhân từ của Chúa, về nỗi thống khổ mà Chúa cam tâm tình nguyện chịu đựng để cho con người được hạnh phúc, bình an. Vậy mà hành động của ông lại làm cho người ta phải suy nghĩ, xem xét lại. Vậy Ông có phải là kẻ bất tín không, thưa ông? 4. Vì động cơ gì mà ông kích động giáo dân làm náo loạn cuộc sống vốn bình yên của người Hà Nội? Vậy ông có là kẻ bất nhân? Một người bất hiếu, bất nghĩa, bất tín, bất nhân như ông, thiết tưởng làm một con người Việt Nam bình thường cũng không đáng. Vậy ông còn mặt mũi nào mà đứng giảng đạo, giảng niềm tin, dẫn dắt cho những người công giáo Hà Nội lương thiện nữa?"…rất nhiều nhận xét thể hiện thái độ bức xúc đối với lời nói của một kẻ được coi là có học

Vậy giờ Nguyễn Ngọc Nam Phong thì sao? Hắn ta cũng giống Ngô Quang Kiệt, cũng khoác lên mình chiếc áo linh mục rồi phát ra những câu nói vô học, vong nô, phản bội dân tộc. Thậm chí hơn hẳn Ngô Quang Kiệt, Nam Phong còn thái độ thách thức chính quyền, cộng thêm vào đó là huy động giáo dân của mình cầu nguyện cho những kẻ bán nước (Nguyễn Văn Đài, Trần Thị Nga…. Hắn ta chính là kẻ mà vào ngày 30/4/2017 đã tập hợp giáo dân và phát ra những lời lẽ xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả, nguyện vọng của cả dân tộc, dẫm lên xương máu của bao thế hệ người đi trước, hắn nói “Ngày 30/4, tại nhà thờ Thái Hà, linh mục Nguyễn NgọcNam Phong đã xuyên tạc, phỉ báng ý nghĩa lịch sử ngày 30/4 và cuộc chiến tranh chống Mỹ-ngụy thống nhất đất nước Việt Nam dưới cái mác “đi tìm lịch sử của cuộc chiến”, cho đó là cuộc chiến phi nghĩa, là cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn, “ngày tang thương” của dân tộc, miền Bắc xâm lược miền Nam, gây hậu quả đến 42 năm đất nước đang bị “Tàu” xâm lược, thao túng bộ máy, chiếm biển đảo, giết hại dân, …”

Và trước thềm ngày 30/4 tới đây Nguyễn Ngọc Nam Phong lại thông báo sẽ có bài giảng mang danh “Thánh lễ Cầu nguyện cho Công lý - Hòa Bình tại nhà thờ Thái Hà” với nội dung xuyên tạc không kém cạnh ngày 30/4 năm trước“Những người “ở bên thắng cuộc” lại tiếp tục hoan hỷ mừng vui trên những đau thương của cuộc chiến với những lễ hội kỷ niệm tưng bừng…43 năm - đã là quá đủ để con dân đất Việt cùng thành tâm nhìn nhận những sai lầm của quá khứ; để cùng nhau quên đi những đau thương, những hận thù vốn đã và đang gây nên biết bao thảm họa cho dân tộc Việt thân yêu; đã đến lúc phải thấy rằng không có bên thắng cuộc hay bên thua cuộc mà chỉ có một dân tộc Việt đang tụt hậu so với các nước lân bang, kém hơn cả Lào và Campuchia”. Người Việt chúng ta vẫn có câu nói rằng: "con không chê cha mẹ khó, chó không chê chủ nhà nghèo". Trong khi đất nước ta đang ngày một phát triển và nhân dân ta đang sống trong hoà bình, ông hãy thử nhìn ra các nước đang có xung đột chết chóc tang thương hàng ngày, hàng giờ xem...

Vậy chúng ta, hàng triệu triệu người Việt Nam yêu nước, những người luôn rất tự hào về tổ tiên, cha ông mình đã hy sinh máu xương, công sức, dành lại nền độc lập dân tộc. Tự hào về lá cờ đỏ sao vàng của dân tộc đêm ngày tung bay trong rừng cờ ngang hàng với quốc kỳ của các nước lớn trên thế giới… khi đứng trước một kẻ phản bội giống nòi, bợ đít ngoại bang, chúng ta phải làm gì. Nên chăng chúng ta cho Nguyễn Ngọc Nam Phong một bài học như Ngô Quang Kiệt, hay là những hình phạt hơn thế để làm gương cho những tên cẩu linh mục khác đang ngày đêm phá đạo, phá đời.

NHÂN  TÂM

29/04/2018

“HỘI THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI” LÀ TỔ CHỨC HỢP PHÁP?

 
Buổi sinh hoạt của "Hội Thánh Đức Chúa Trời"
Thời gian qua, cái tên “Hội Thánh Đức Chúa Trời” đã không còn xa lạ với mọi người nếu chúng ta có thời gian theo dõi trên truyền thông và mạng xã hội. Với những ai chưa từng nghe, thì cái tên đó sẽ khiến họ nghĩ đến một nhóm, tổ chức những người có đức tin mạnh mẽ vào Thiên Chúa. Nhưng sự thực có đúng như vậy?

Được biết tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa trời” hay còn gọi là Hiệp hội truyền giáo Tin lành thế giới do Ahn Sang Hong thành lập vào năm 1964 tại Hàn Quốc và hiện có mặt trên hơn 100 quốc gia trên thế giới. Trong thời gian qua, chúng đang tìm cách len lỏi, xâm nhập vào Việt Nam, thông qua một số người với vỏ bọc là nhân viên tiếp thị, nhân viên bán hàng, giới thiệu sản phẩm để đi đến các vùng quê từ thành thị đến nông thôn để tuyên truyền, vận động, lôi kéo người dân tham gia.

Những kẻ tuyên truyền thường lập luận rằng: “Đức Chúa trời là đấng tối cao quyền năng, tạo ra các vì sao, các hành tinh và trái đất, tạo ra loài người để cai quản nó. Nay sắp đến ngày tận thế, Đức Chúa trời thương xót cho loài người nên mới đi tìm con cái để cứu rỗi. Ai may mắn lắm mới được Đức chúa trời cứu, ai không nghe theo sẽ bị hủy diệt. Ai muốn được cứu thì đến để làm lễ vượt qua…Ngày tận thế đã gần đến, mọi anh chị em cần phải sám hối và cầu nguyện để được Thiên Chúa tha thứ mọi tội lỗi… Đức Chúa trời muốn ta cất của cải ở Nước Thiên đàng, đó là tấm lòng ta để ở đó, Đức Chúa trời không cần của cải của chúng ta… Khi chết đi Đức Chúa trời sẽ biến hóa cho các con chiên thăng thiên lên trời, ở nước thiên đàng, sống như tiên, suốt ngày vui chơi, múa hát, không ăn uống, không dùng đến tiền”…

Đối tượng hướng đến để tuyên truyền, lôi kéo là các đối tượng nhẹ dạ, cả tin, tò mò, hay những tín đồ cuồng đạo và theo đạo mù quáng. Bên cạnh đó còn là một số người theo đạo và tìm đến với đạo để muốn kiếm lợi cho bản thân. Sinh viên, phụ nữ… là những đối tượng chúng nhắm đến nhiều nhất. Khi tin theo, các tín đồ phải đập bát hương thờ kính tổ tiên, dâng 1/10 tổng thu nhập hàng tháng để Đức Chúa trời Mẹ giữ hộ. Cứ có tiền vào tay phải trích ngay ra, để riêng một chỗ để đến ngày thứ 7 đem đến dâng lên Đức Chúa trời mẹ”.

Các đối tượng tuyên truyền thường đi thành nhóm 2-3 người, tới các địa điểm công cộng như công viên, vườn hoa, thư viện các trường đại học… Chúng sẽ tiếp cận đối tượng sinh viên bằng cách rủ đi học kỹ năng mềm, tiếp cận đối tượng phụ nữ trẻ bằng cách làm thân, rồi an ủi chia sẻ. Rất nhanh chóng, con mồi sẽ trở nên mụ mị, nghe và tin theo những gì chúng nói, rồi đồng ý tham gia Hội. Sau đó, các tín đồ sẽ bị tẩy não với đủ mọi chiêu trò. Trong đó có chuyện bỏ độc vào rượu (lễ bẻ bánh) khiến cho ai uống vào đều trở nên mụ mị và lú lẫn để họ dễ bề sai khiến.

Thực sự rất nhí nhố và lăng nhăng. Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ lấy cả giáo lý Thiên chúa giáo làm giáo lý của mình, mà lại đầu Ngô mình Sở, bị Hội Thánh Tin Lành bài trừ. Thế nhưng vào Việt Nam, thì cả bọn ngáo đá, nghiện hút cũng đi “truyền đạo” vậy mà có rất nhiều người nhẹ dạ, cả tin, thậm chí nhiều người chữ nghĩa đầy mình cũng theo. U mê đến thế là cùng.

Bỏ thờ cúng tổ tiên là đi ngược văn hóa ông cha. Bỏ bố mẹ, anh em là bỏ đạo lý làm người và phá vỡ kết cấu gia đình. Tuyên truyền về ngày tận thế đang đến và vẽ ra cõi thiên đường mù mờ là mê tín dị đoan. Trích 10% nguồn thu cho “tổ chức” là có dấu hiệu trục lợi… Vậy mà, vẫn có người u mê đi theo thứ tà đạo, bất chấp cản ngăn, lại còn dẫn dụ người khác theo cùng.

Ở Việt Nam, Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ đang được coi một thứ tà đạo, gieo rắc mê tín dị đoan, phá nát gia đình, phá tan nhà cửa, và vi phạm pháp luật, chúng đang tồn tại ở Việt Nam, là một thực thể và có nguy cơ lan rộng. Hàng ngày, nhiều người làm cái gọi là “truyền đạo” đang len lỏi đến các hẻm phố, ngõ làng ở Hải Phòng, Thái Nguyên, Bắc Ninh, thành phố Hồ Chí Minh, Lâm Đồng,… lôi kéo, dụ dỗ nhiều người tin theo. Tin với niềm tin ngây thơ một cách u mê, không kiểm soát được hành vi.  Đã có bao người mẹ đau đớn, tuyệt vọng khi đứa con đi theo Hội Thánh Đức Chúa Trời Mẹ, rồi bỏ luôn căn nhà ấm cúng, bỏ luôn gia đình vốn đã từng sum vầy ấm áp. Khi được khuyên nhủ, căn ngăn, thì chúng kiện luôn người đã đẻ ra chúng. Những đứa trẻ hiếu thảo ngoan ngoãn lại vụt ra khỏi vòng tay của cha mẹ rất vội và bội bạc với bậc sinh thành nhanh cũng rất nhanh. Chúng coi cha mẹ là cổ hủ, thậm chí có đứa còn coi cha mẹ là ma quỷ hiện hình không có niềm tin vào đức Chúa Trời. Những đứa con ghẻ lạnh với cha mẹ, không nhận cha mẹ, bỏ cha mẹ để đi với Đức Chúa Trời. Cha mẹ mà chúng không nhận thì tổ tiên còn nghĩa lý gì?

Người Việt Nam rất nặng tín ngưỡng dân gian, và có niềm tin tôn giáo. Một thời Đông A rực rỡ tam giáo đồng tồn, và cho đến nay có nhiều tôn giáo hiển hiện trong đời sống xã hội. Trong nhiều gia đình, có nơi thời tổ tiên lại có cả nơi thờ Phật. Niềm tin của tín đồ về một đấng cao xanh, nhưng cũng có niềm tin về tổ tiên luôn sống và phù hộ cho con cháu. Có đạo lý nào truyên truyền, dạy dỗ tín đồ… bỏ tổ tiên, bỏ cha mẹ? Không! Đạo chân chính thì nhân đạo nhân văn, chứ không bao giờ phản nhân văn như thế. Chân đạo thì người truyền đạo chân chính. Tà đạo thì kẻ “truyền đạo” ma cô, lưu manh.

Nhà nước ta không bài trừ tín ngưỡng, tôn giáo: “Mỗi người có quyền bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo; thực hành lễ nghi tín ngưỡng, tôn giáo; tham gia lễ hội; học tập và thực hành giáo lý, giáo luật tôn giáo”. Người đang vi phạm pháp luật còn “có quyền sử dụng kinh sách, bày tỏ niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo”. Chúng ta không hẹp hòi, không ngăn cấm chân đạo và tín ngưỡng lành mạnh, nhưng các loại tà đạo làm tan cửa nát nhà thì phải đưa ra ánh sáng công lý.


Tống Giang


NHÀ THỜ THÁI HÀ TIẾP TỤC XUYÊN TẠC TRONG THÁNH LỄ CẦU NGUYỆN CÔNG LÝ VÀ HÒA BÌNH


 
Linh mục Giuse Trịnh Ngọc Hiên- Bề trên DCCT Hà Nội
Vào 20h tối ngày hôm nay 29/4/2018, nhà thờ Thái Hà đã tổ chức buổi cầu nguyện “Thánh lễ Công lý và Hòa Bình” với sự rao giảng của các vị chủ chăn Giuse Trịnh Ngọc Hiên, Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong... Và như thường lệ, một lần nữa những vị chủ chăn này đã lồng ghép những nội dung tuyên truyền, xuyên tạc lịch sử dân tộc, phủ nhận những thành quả mà toàn thể nhân dân Việt Nam thời gian qua.

Ngay đầu buổi lễ cầu nguyện, những người đứng đầu nhà thờ Thái Hà đã nhồi sọ cho đàn chiên với màn mở đầu rằng: “Cộng đoàn cùng hiệp ý cầu nguyện cho nhà cầm quyền Hà Nội trả lại tu viện của nhà dòng hiện đang làm bệnh viện Đống Đa, cũng như trả lại các tài sản của nhà dòng và giáo hội đang bị chiếm dụng bất hợp pháp”...

Tiếp đến vị linh mục Giuse Trịnh Ngọc Hiên - Bề trên Dòng chúa cứu thế Hà Nội đã rao giảng rằng:  Đất nước chúng ta đã thống nhất 43 năm rồi. Mảnh đất hình chữ S mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta và con cháu chúng ta làm cơ nghiệp, đã chấm dứt tiếng súng hơn 40 năm. Nhưng, thưa anh chị em, có lẽ cần phải thành thật với nhau rằng, đất nước chúng ta dù đã thống nhất 43 năm, nhưng kỳ thực, chưa bao giờ, người Việt thống nhất về nhân tâm, chưa bao giờ chúng ta trở thành một nhà; vẫn còn đó sự chia rẽ vùng miền, đảng phái chính trị, tôn giáo; vẫn còn đó những kỳ thị giữa “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”; vẫn còn đó thái độ cha chú hay thói kiêu ngạo của phe này, phái nọ; và trên tất cả là cuộc chiến ý thức hệ giữa hai bên “Quốc gia” và “những người theo Cộng sản” – vốn là nguyên nhân của cuộc chiến hai miền Nam Bắc kéo dài hơn 20 năm, và nay, sau 43 năm, vẫn đang tiếp tục chưa có hồi kết thúc”...

Thậm chí, đến gần cuối buổi cầu nguyện, linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong -  một kẻ đi ngược lại với đời và đạo đã rao giảng cho đàn chiên rằng: “43 năm ngày đất nước chúng con vắng tiếng súng nhưng cũng là 43 năm mọi công dân đất việt tản mát khắp nơi. đất nước chúng con thống nhất nhưng chúng con không một tấm lòng, không thống nhất  và nhân tâm. Chúng co thống nhất về địa lý nhưng lòng người vẫn bị chia cắt bởi hận thù, bởi phe nhóm, bởi những ý thức hệ ngang tàn...”

Xin thưa với những người đứng đầu nhà thờ Thái Hà rằng, chính các vị chủ chăn đang lợi dung Thánh lễ cho Công lý và Hòa bình để tiến hành xuyên tạc phí bảng lịch sử quốc gia, dân tộc và chính các ngài cũng đang đi ngược lại với những lời răn dạy của Đức Chúa, của Đức Giáo hoàng cũng như của Giáo Hội Công giáo Việt Nam. Và cũng như năm 2017, Nguyễn Ngọc Nam Phong và những người đứng đầu nhà thờ Thái Hà đã và đang thể hiện rõ sự thách thức chính quyền, thách thức pháp luật, vi phạm các điều luật của Giáo Hội cũng như đang phủ nhận, phí bảng lịch sử dân tộc.

Các vị nên nhớ rằng, vào năm 1945, khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có thư gửi linh mục và đồng bào công giáo Việt Nam. Trong thư Người nhấn mạnh: "Cách đây một nghìn chín trăm bốn mươi nhăm năm trước, một vị thánh nhân là Đức Chúa Jêsu ra đời. Suốt đời hy sinh phần đấu cho tự do, cho dân chủ, từ ngày giáng sinh đến nay đã gần 2000 năm, nhưng tinh thần thân ái của Ngài chẳng những không phai nhạt mà lan tỏa ra khắp, thấm vào đã sâu". Tinh thần thân ái mà Chúa Jêsu đã răn dạy, tinh thần Đại đoàn kết toàn dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bồi đắp và xây dựng luôn được đồng bào các dân tộc Việt Nam, bất kể theo tín ngưỡng, tôn giáo nào, hễ là "con Rồng, cháu Tiên" đều chung sức, chung lòng gìn giữ, phát huy. Rõ ràng là Chúa đâu có dạy các chủ chăn rao giảng các luận điệu xuyên tạc sự thật, chống phá đất nước, gây hận thù dân tộc mà quên đi tình bác ái, đức hy sinh, quên đi nghĩa vụ của mỗi công dân là phải gắng sức xây dựng quê hương ngày càng ấm no, giàu đẹp? Vậy những người đứng đầu nhà thờ Thái Hà đã nhân danh Giáo hội, lấy giáo lý ra mà răn dạy các con chiên như thế chăng?

Trong Thư chung 1980, để khẳng định đường hướng hoạt động của mình, Hội đồng Giám mục Việt Nam nêu rõ: "Là Hội Thánh trong lòng dân tộc Việt Nam, chúng ta quyết tâm gắn bó với vận mạng quê hương, noi theo truyền thống dân tộc hòa mình vào cuộc sống hiện tại của đất nước. Cộng đồng dạy rằng "Hội Thánh phải đồng tiến với toàn thể nhân loại và cùng chia sẻ một số phận trần gian với thế giới" (MV 40,2). Tiếp đến ngày 27/6/2009, khi tiếp xúc với Đoàn của Giáo hội Công giáo Việt Nam sang thăm, Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI cũng đã dạy: "Các giáo dân công giáo phải làm sao tỏ ra bằng đời sống của họ dựa trên đức ái, sự lương thiện, việc quý trọng công ích, vì mỗi người công giáo tốt cũng là một công dân tốt. Để được như thế anh em hãy chú ý cẩn thận mà tạo cho họ được việc huấn luyện tốt trong khi cổ võ đức tin và trong mức độ văn hóa để họ có thể phục vụ hữu hiệu Giáo hội và xã hội".

Sự thật là sau Cách mạng Tháng Tám, đặc biệt là trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ, oanh liệt của dân tộc, cùng với nhân dân cả nước, nhiều vị chức sắc, giáo dân đã chiến đấu, dũng cảm hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc. Sau khi giành được độc lập, đồng bào Công giáo cùng cả nước tích cực tham gia các phong trào thi đua, “sống tốt đời, đẹp đạo", "sống Phúc âm trong lòng dân tộc", giúp nhau phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo... và những thành tựu về xây dựng đất nước, phát triển kinh tế nói chung và tự do tín ngưỡng tôn giáo nói riêng của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Chính Đức Giáo hoàng Bê-nê-đic-tô XVI cũng đã khuyên dạy: "Anh em phải trở nên những gương khích lệ trong sứ vụ giám mục khi phục vụ dân tộc Việt Nam, một dân tộc mà tôi biểu lộ lòng trân trọng sâu xa".

Núp dưới các chiêu bài tổ chức “Thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình” hay cái gọi là đấu tranh đòi "công lý", "sự thật", những vị linh mục Nhà thờ Thái Hà ngày càng cố tình can dự trái phép vào các hoạt động chính trị, trái với chức trách, bổn phận của các linh mục; luôn tìm cách "hình sự hóa", "chính trị hóa", "quốc tế hóa" các vụ việc vi phạm pháp luật, không những chẳng làm trọn bổn phận công dân, nguy hiểm hơn, họ luôn tìm cách chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, chia rẽ tôn giáo, chia rẽ giữa chính quyền với nhân dân... Một lần nữa, người dân Việt Nam đang rất mong các cơ quan chức năng sớm vào cuộc điều tra, làm rõ và sớm xử lý nghiêm minh trước pháp luật với những kẻ đã và đang chà đạp lên lịch sử quốc gia, dân tộc như Nguyễn Ngọc Nam Phong và những người đứng đầu nhà thờ Thái Hà!

Tống Giang

(bạn đọc có thể xem lại video livestream của trang Truyền Thông Thái Hà ở địa chỉ: https://www.facebook.com/nhathothaiha/videos/679707472365537/?hc_ref=ARQYQU7sPIAYXWEeAhVJ1RbBm62mCIRiYmU3c7CmKkm_L3E-DjU_80IfF5GJ6JoiKbo)

CẢNH TỈNH TRƯỚC CÁI GỌI LÀ “HỘI THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI”

"Hội thánh Đức Chúa trời"


Trong những ngày qua, đề tài về hiện tượng “Hội Thánh Đức Chúa Trời” trở nên nổi bật trên mạng xã hội nói riêng và truyền thông trong nước nói chung.

Dựa vào một số thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng, nội dung giáo lý của “Hội Thánh Đức Chúa Trời” có thể tóm tắt như sau: Thiên Chúa “có nam có nữ”, gồm Đức Chúa Trời Cha và Đức Chúa Trời Mẹ. Chúa Trời Cha đã tái sinh vào một người đàn ông Hàn Quốc tên là Anh Sahng-hong, và Chúa Trời Mẹ tái sinh chính là vợ ông, tên Zang Jah Gil. Đây là thời cận kề “tận thế”, nên họ chính là “Đấng Cứu Chúa” của thời đại: sẽ cứu vớt những ai gia nhập đạo của họ. Đi kèm với tín điều này là một số luật: Thờ phượng “Đấng Cứu Chúa” vào ngày Sabat (Thứ Bảy); giữ một số ngày lễ Do Thái giáo: Lễ Lều, Lễ Vượt Qua; không ăn đồ cúng; đập bỏ bát hương và các hình thức tôn kính tổ tiên truyền thống; dâng cúng 10% thu nhập.

Như thế, xét theo nội dung “giáo lý”, “Hội Thánh Đức Chúa Trời” hầu như không liên quan gì tới Ki-tô giáo. Nó chỉ liên quan ở cái tên và ở việc dùng một số điểm từ Kinh Thánh (nhưng lại được giải thích theo lối giản lược vào nghĩa đen – ‘fundamentalism’). Vì thế, thiết nghĩ Ki-tô hữu cần phải cẩn trọng khi nói về giáo lý của họ. Công bằng mà nói, chúng ta không thể kết án họ là “lạc giáo”.

Vì nếu “lạc”, thì “lạc” so với giáo lý nào? Nếu nói “lạc”, là ta đã đặt nó trong tương quan và so sánh với tiêu chuẩn Ki-tô giáo, trong khi giáo lý của họ lại chẳng liên hệ gì đến nội dung chính yếu của Ki-tô giáo, vốn được xác định từ căn bản Mầu nhiệm Tình Yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi, được mặc khải từ Mầu nhiệm Đức Giê-su Ki-tô nhập thể để cứu nhân loại và “chỉ một lần là đủ” (Rm 6,10), và Giáo Hội được giao phó sứ mạng rao truyền Tin Mừng này. Do đó, về mặt giáo lý, thiết tưởng chỉ nên nhấn mạnh sự “không liên hệ” giữa họ và ta, và tạm xem họ là một “tôn giáo mới” mà thôi.

Tuy nhiên, dường như vấn đề nằm ở những biến tướng trong việc thực hành của họ. Và theo thông tin được biết, nó có những yếu tố tiêu cực và lệch lạc. Ở đây tôi không trực tiếp bàn về những cách thức thực hành của họ, nhưng thử suy xét vấn đề đáng bàn với chúng ta từ ba câu hỏi: tại sao hiện tượng tôn giáo này có sức lan toả mạnh mẽ? chúng ta nên tiếp cận thế nào đối với những tín hữu của “tôn giáo mới” này? Và  xã hội phải cảnh tỉnh, đối mặt với nó như thế nào? 

Trước hết, thiết tưởng nội dung giáo lý của tôn giáo mới này không có nhiều kiến giải “hấp dẫn – sâu xa” về mặt thiêng liêng. Vậy, điều gì khiến nhiều người dễ dàng tin theo và gia nhập? Theo tôi, có ba vấn đề quan trọng: thứ nhất, những khủng hoảng tinh thần của xã hội hiện đại; thứ hai, cách thức “truyền đạo” của họ; và cuối cùng, yếu tố “cộng đoàn”.

Có thể nói, thời điểm hiện tượng tôn giáo này bùng phát cũng trùng thời điểm khủng hoảng tinh thần của xã hội. Thực vậy, có lẽ một trong những yếu tố nổi trội của thời đại này là việc “thông tin sự dữ” chiếm lĩnh mọi không gian sống của con người. Từ báo chí, mạng xã hội, cho tới các góc quán cà phê, điều truyền đến tai mắt và lọt vào các câu chuyện đều là những thông tin về giết chóc, thảm hoạ, chiến tranh.

Hiện tượng “bội thực tin dữ” này ngấm ngầm dẫn đến những khủng hoảng tinh thần nhất định: người ta hoang mang và dễ đánh mất niềm tin vào sự thánh thiện tốt lành, vào cuộc sống. “Hội Thánh Đức Chúa Trời” dường như đã đi vào trọng tâm của hoàn cảnh "sa mạc tinh thần" đó: họ đặc biệt nhấn mạnh đến những khủng hoảng, và diễn giải sự dữ dưới lăng kính giáo lý của họ. Với cảm thức tôn giáo rất mạnh mẽ của người Việt, những diễn giải đó dễ dàng được tin nhận.

Hơn nữa, cách “truyền giáo” của họ dễ khiến người ta thấy được “an ủi”. Quả vậy, từ những clip trên Internet, ta có thể nhận ra một điểm đặc biệt: các tín hữu của tôn giáo này tiếp cận người khác bằng cách đồng hành cá nhân, chân thành nâng đỡ, hỏi han về cuộc sống, về những khó khăn và khủng hoảng, rồi dần dà mới tìm cách giới thiệu giáo lý. Vì vậy, nhiều người trong số đó, nhất là những người cô đơn và gặp khủng hoảng, cảm thấy được an ủi, được đồng hành, được đón nhận.

Vấn đề thứ ba chính là tính “cộng đoàn” trong việc thực hành của tôn giáo này. Theo nhiều thông tin, họ đặc biệt chú trọng việc sống và tương quan với nhau theo tính tập thể. Vì thế, dù có thể mang những yếu tố tiêu cực, lệch lạc như truyền thông phản ánh, nhưng điều này nhắc ta về sức hấp dẫn của tính cộng đoàn đối với con người. Điểm này cũng dễ hiểu, vì mỗi người đều có nhu cầu cảm nhận mình thuộc về một nhóm, một cộng đoàn nào đó. Nhu cầu đó nằm trong bản chất mang tính xã hội của con người. Vì thế, nó trở lên mạnh mẽ trong thời đại mà con người thấy mình bị cô lập, bị mất tính cộng đoàn vì lối sống công nghệ.

Tống Giang



NGUYỄN NGỌC NAM PHONG ĐANG ĐI NGƯỢC LẠI VỚI ĐẠO VÀ ĐỜI

LM Nguyễn Ngọc Nam Phong đi ngược lại đời và đạo

Điều gì đang xảy ra đối với Giáo hội Công giáo Việt Nam những ngày gần đây? Đó là câu hỏi mà nhiều người dân Việt Nam đang đi tìm lời giải, sau khi chứng kiến nhiều chuyện phức tạp xấu hổ liên quan đến Giáo hội Công giáo Việt Nam mà đặc biệt là ở nhà thờ Thái Hà và ở giáo phận Vinh.

Người ta được biết đến lịch sử Công giáo du nhập vào Việt Nam từ thể kỷ XVI, và nó cũng gắn liền với quá trình xâm lược Việt Nam của các nước phương Tây, mà điển hình là thực dân Pháp. Có nhiều sách viết rằng, nếu không có Công giáo, thì Pháp không thể xâm chiếm được Việt Nam. Nói như vậy để thấy vai trò tay sai của những kẻ lợi dụng danh nghĩa chúa Giuse trong việc chỉ điểm, dẫn đường cho thực dân Pháp xâm lược nước ta.
Ngay từ rất sớm, bằng cách ép buộc, dụ dỗ và mua chuộc mà nhiều người Việt Nam đã gia nhập đạo Thiên Chúa, Theo thời gian, số lượng người theo đạo ngày càng lớn và có nhiều người sùng đạo đến mức cuồng tín. Trong một số giáo dân, nhận thức về dân tộc hay Tổ quốc bị phai mờ, méo mó và lệch lạc. Với họ chỉ có nước Chúa mà quên rằng trước khi trở thành một giáo dân, họ là công dân của nước Việt Nam. 

Lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc cũng cho thấy, đã có một bộ phận giáo dân chống Cộng tới mức điên cuồng. Trong quá khứ, người ta có thể tìm thấy những khẩu hiệu: “không đội trời chung với CS”, “Thà mất nước còn hơn mất Chúa” được trưng lên ở các xứ đạo.

Dõi theo các sự kiện liên quan đến Công giáo thời gian qua, người ta lại nhớ lại một sự kiện đau lòng cũng liên quan đến Công giáo ở thập kỷ năm mươi của thế kỷ trước, khi thực dân Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ.

Năm 1954, Hiệp định Giơnevơ được ký kết, đất nước tạm thời bị chia cắt làm 2 miền, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới tạm thời, đồng thời theo Hiệp định này, thực dân Pháp và bè lũ tay sai bán nước của chúng rút về Nam vĩ tuyến 17. Trong hơn 1 triệu người ào ạt di cư vào Nam lúc đấy, đa số là giáo dân (78%) cùng với một bộ phận quan trọng của hàng giáo phẩm (3 giám mục, 618 linh mục). Đến cuối năm 1955, ở lại miền Bắc còn hơn 40% giáo dân (456.720 người) và 37 % giáo sĩ (375 người). Họ là những người nông dân chất phác, nghèo khổ, đói rách ra đi trước hết là với hy vọng kiếm được miếng ăn theo lời tuyên truyền “muốn có gạo theo đạo mà ăn”, “ Chúa đã vào Nam”, mà bộ máy tâm lý chiến của Mỹ, Pháp và tay sai thực hiện. Một bộ phận trong họ ra đi là để trốn chạy sự nguyền rủa về quá khứ làm tay sai cho thực dân Pháp đô hộ, về lịch sử tiếp tay cho thực dân xâm lược nước ta.

Sau thời điểm bi thương ấy, Bác Hồ đã từng đến một số địa phương có cộng đồng người Công giáo để chia sẻ, động viên những đồng bào ở lại. Sáng 2/12/1959, Bác đến thăm đồng bào Công giáo thôn Thạch Bích, tỉnh Hà Đông (nay là Thủ đô Hà Nội). Được tin Bác đến, bà con Giáo dân kéo về chật sân Đền thánh Anton. Sau khi thăm hỏi việc đồng áng, Bác đi thẳng vảo vấn đề:

 - Chúa ở khắp mọi nơi, ở trên trời, dưới đất và cả hỏa ngục nữa, có đúng không?

- Đúng ạ. Đúng ạ. Thưa Bác đúng ạ. Mọi người đồng thanh trả lời như học sinh trả lời các thầy cô giáo.

Bác lại hỏi:

- Chúa ở khắp mọi nơi thì sao lại bảo Chúa đi Nam, có đúng không?

- Đúng ạ! Đúng ạ! Tiếng trả lời râm ran xen tiếng vỗ tay.

- Thế thì Đảng ta ngày đêm lo sao cho HTX có năng suất cao, sao cho các gia đình giáo dân được no ấm, các cháu đến tuổi đi học được cắp sách đến trường, người lớn chưa được biết chữ thì học bình dân học vụ. Sớm, tối chuông nhà thờ vẫn ngân vang để bà con bình an thờ phụng Chúa. Đảng ta đã và đang làm như vậy có đúng không?

Từ nghi kỵ, đến tò mò, người Công giáo Thạch Bích dần mới hiểu ra rằng, mình đã bị tuyên truyền lừa phỉnh. Đảng và Bác Hồ mới là người thương dân, lo cho dân chứ không phải là những kẻ đang lừa phỉnh, Bởi Bác Hồ vị lãnh tụ tối cao của dân tộc mà sao gần gũi, thương dân đến thế, tiếng vỗ tay rộ lên xen lẫn tiếng hô vang: “Hồ Chủ Tịch muôn năm! Đảng Lao động Việt Nam muôn năm!”.

Hơn 85 năm qua khi đa số người Công giáo Việt Nam đã hiểu về Đảng, về chế độ, về Bác Hồ. Đồng bào đã từng bước, dần thay đổi quan điểm, cách đánh giá, cách nhìn nhận, từ cách nghĩ, đến việc làm, đã đồng hành cùng dân tộc. Trước và sau Cách mạng Tháng Tám 1945 và thập niên của những năm 60-70 của thế kỷ trước, được sự ủng hộ của nhân dân, Đảng và Nhà nước đã phát huy được sức mạnh vĩ đại của khối đoàn kết dân tộc, không phân biệt già, trẻ gái trai, giai cấp, tôn giáo, toàn dân cùng nỗ lực, cùng đồng lòng để đánh đuổi giặc ngoại xâm, trận chiến cuối cùng chống quân xâm lược Mỹ năm 1975 đã là một thể hiện, một minh chứng, một bằng chứng hùng hồn về tinh thần dân tộc và khối đại đoàn kết toàn dân là động lực, là nguyên khí quốc gia, sức mạnh trường tôn của một dân tộc Việt. Vì thế câu nói của Bác là bất hủ, sống mãi với thời gian “đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công đại thành công”.

Sau 43 năm thống nhất đất nước, với chính sách đổi mới, hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước đã có những chính sách cởi mở hơn về dân tộc, tôn giáo nhằm phát huy sức mạnh của khối đoàn kết dân tộc, thực hiện thắng lợi chủ trương dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Thực tế cũng cho thấy, mặc dù là đất nước có nhiều tôn giáo, đa sắc tộc nhưng Việt Nam hoàn toàn không có kỳ thị dân tộc, sắc tộc hay tôn giáo.

Vậy nhưng, những ngày qua người dân lấy làm ngạc nhiên vì ngay giữa thủ đô Hà Nội, linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong của Dòng chúa cứu thế Thái Hà lại ngang nhiên đăng tải những bài viết chia rẽ tôn giáo, bịa đặt và xuyên tạc trắng trợn chủ trương đường lối tôn giáo của Đảng, Nhà nước trước hàng trăm giáo dân. Vị linh mục lòng lang dạ sói này trơ trẽn vu cáo Đảng, Nhà nước vi phạm tự do dân chủ và nhân quyền; phủ nhận các thành tựu của đất nước; xúc phạm anh linh Chủ tịch Hồ Chí Minh, kích động giáo dân tiến hành các hoạt động chống đối chính quyền.

Trong bài viết về “Thông báo: Thánh lễ cầu nguyện cho công lý và hòa bình tại Thái Hà” được đăng tải trên trang nhathothaiha.net vào ngày 27/4/2018, Nguyễn Ngọc Nam Phong đã xuyên tạc rằng: “Có thể nói rằng, đất nước Việt Nam đã thống nhất 43 năm, nhưng kỳ thực, chưa bao giờ, người Việt thống nhất về nhân tâm, vẫn còn đó sự chia rẽ vùng miền, đảng phái chính trị, tôn giáo; vẫn còn đó những kỳ thị giữa “bên thắng cuộc” và “bên thua cuộc”; vẫn còn đó thái độ cha chú hay thói kiêu ngạo của những người cộng sản; và trên tất cả là cuộc chiến ý thức hệ giữa hai bên “Quốc gia” và “Cộng sản – vốn là nguyên nhân của cuộc chiến hai miền Nam Bắc kéo dài hơn 20 năm, nay vẫn đang tiếp tục chưa có hồi kết thúc. Tóm lại, chúng ta vẫn chưa vượt qua được quá khứ. Mảnh đất Mẹ Việt Nam vẫn đang bị con dân đất Việt tranh chấp, xâu xé từng ngày.
Chẳng lẽ, lịch sử 4 nghìn năm của dân tộc cuối cùng như vậy sao? Ai là người phải chịu trách nhiệm về sự tụt hậu, về tình trạng xuống cấp đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay? Cơn mưa lớn “rửa Đền Hùng” – cách gọi của báo chí nhà nước, nhân ngày giỗ tổ Hùng Vương (ngày 10 tháng Ba âm lịch) những ngày vừa qua, cùng cuộc gặp lịch sử liên Triều ngày hôm nay, ngày 27 tháng Tư, mang lại những suy nghĩ nào cho chúng ta nhân dịp đất nước chuẩn bị kỷ niệm 43 năm ngày “thống nhất đất nước”?”
Lần theo lịch sử những bài rao giảng của vị linh mục này, người ta nhận thấy bộ mặt kinh tởm của kẻ vong nô phản quốc, đội lốt tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam. Với những giọng điệu bài bác chế độ, Nguyễn Ngọc Nam Phong thay vì rao giảng những điều hay lẽ phải cho giáo dân, khuyên bảo họ “Sống tốt đời đẹp đạo”, “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”, thì y lại lợi dụng vị thể “Cha đạo” của mình để lèo lời Chúa thành ý của mình để sai khiến giáo dân chống đối mọi chủ trương của Nhà nước, làm những việc trái với luân thường, đạo lý, đi ngược lại lợi ích của dân tộc.
Đáng chú ý, bản thân Nguyễn Ngọc Nam Phong cũng là một người không tốt đẹp gì mặc dù y đã khoác lên mình chiếc áo choàng công giáo. Những mối quan hệ bất chính với những phụ nữ từ già đến trẻ, từ Nam ra Bắc, từ những “con chiên ngoan đạo” đến loại lăng loàn như TTN (Phủ Lý), HTV... hay mối quan hệ với các thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân bị dư luận bóc mẽ thời gian vừa qua cũng đã tô đậm thêm vào bảng “thành tích” bất hảo chống phá đất nước của linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong.

Hành động của Nguyễn Ngọc Nam Phong đã xúc phạm đến lương tri và lòng tự hào của những người yêu nước chân chính, cả những người theo và không theo đạo. Nhiều người đã tự hỏi: liệu ông ta có còn đủ tư cách một linh mục để răn dạy người khác hay không, và rằng ông ta có còn là con người nữa hay không khi mà phần thú tính của ông ta nổi trội hơn của dã thú?

Thử hỏi những hành động trên của Nguyễn Ngọc Nam Phong và những giáo dân cuồng tín cực đoan kia có phù hợp với những lời răn của Chúa Giuse hay không? Có đúng với đường hướng của Giáo hội Công giáo Việt Nam mà trong Huấn từ và Sứ điệp của Giáo hoàng Benedict XVI gửi Giáo hội Công giáo Việt Nam hay không? Xin được nhắc lại, trong Huấn từ của Giáo hoàng Benedict XVI có đoạn viết: “Bằng đời sống xây nền trên đức ái, sự liêm chính, việc quý trọng công ích, anh chị em giáo dân phải chứng tỏ rằng là người Công giáo tốt cũng là người công dân tốt”.

Nguyễn Ngọc Nam Phong phải hiểu rằng, là công dân Việt Nam thì phải có quyền và nghĩa vụ bình đẳng trước pháp luật, vì thế họ phải có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân và phải có ý thức chấp hành pháp luật. Chẳng lẽ là linh mục, là giáo dân Công giáo thì họ có quyền đứng trên pháp luật, bất chấp luật pháp? Nếu ai cũng như linh mục Phong và những giáo dân cuồng tín kia thì xã hội sẽ đi về đâu và còn đâu nữa nguyên khí quốc gia, còn đâu nữa tinh thần và sức mạnh trường tồn của dân tộc Việt Nam.

Thật đáng tiếc, dù đều là con lạc cháu hồng, nhưng một bộ phận giáo dân đã và đang bị lũ chủ chăn đội lốt linh mục kích động xúi bẩy tham gia vào những hoạt động vi phạm pháp luật, đi ngược lại những giá trị đạo đức và chống lại dân tộc đã sinh ra mình.  Để thượng tôn pháp luật, bảo vệ thành quả của nhân dân, những kẻ vi phạm pháp luật phải bị trừng trị thích đáng dù chúng là linh mục hay thú dữ. Mong sao những giáo dân lầm lỡ sớm phản tỉnh, xám hối và chuộc lại lỗi lầm trước khi quá muộn. Mong sao Giáo hội Công giáo sớm thanh loại những kẻ đi ngược lại đạo và đời như linh mục Nguyễn Ngọc Nam Phong!


Tống Giang

RSF LẠI XUYÊN TẠC VỀ TỰ DO BÁO CHÍ Ở VIỆT NAM

RSF lại xuyên tạc về tự do báo chí ở Việt Nam


Ngày hôm qua (25/4), tổ chức “Phóng viên không biên giới” (RSF) đã công bố “Báo cáo về Chỉ số tự do báo chí toàn cầu năm 2018” và cũng như năm 2017 khi theo bản báo cáo này, một lần nữa RSF lại xếp Việt Nam vào danh sách các nước “không có tự do báo chí” xếp hạng Việt Nam thứ 175 trong số 180 quốc gia (Ai Cập xếp hạng thứ 161, Cuba 172, Trung Quốc 176 và Triều Tiên, đứng hạng 180).

Trước hết cần khẳng định, “Báo cáo về Chỉ số tự do báo chí toàn cầu năm 2018”công bố ngày 25/4, Tổ chức phóng viên không biên giới (Reporters sans frontières - RSF) vẫn tiếp tục duy trì cái nhìn sai trái, cùng nhiều luận điệu có tính chất xuyên tạc, để từ đó  nhận xét xuyên tạc về tự do báo chí ở Việt Nam. RSF cho rằng: ở Việt Nam “mọi cơ quan báo chí đều hoạt động dưới sự chỉ đạo và kiểm soát chặt chẽ của Đảng Cộng sản Việt Nam” và “ở Việt Nam đã có nhiều blogger và nhà báo tự do bị bỏ tù bởi các tội danh “tuyên truyền chống nhà nước”, “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, “lạm dụng quyền tự do dân chủ”… Xin được trích lời của bà Margaux Ewen, giám đốc điều hành của RSF tại Washington D.C: “Truyền thông Việt Nam hoàn toàn bị kiểm duyệt và những blogger và nhà báo độc lập luôn bị chính quyền đe doạ hay xách nhiễu. Nếu trước đây hình phạt cho những blogger này thường là 2 năm thì hiện nay họ có thể đối mặt với những bản án lên tới 15 năm tù giam”.

Như thường lệ, RSF và bà Margaux Ewen cố tình bỏ qua những cáo trạng đầy thuyết phục, với đầy đủ chứng cứ cụ thể và xác thực về hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam của các đối tượng mà họ đề cập là thấy thái độ không khách quan, bất chấp sự thật của họ. Chẳng lẽ, RSF và Margaux Ewen không có khả năng phân biệt sự khác nhau giữa nhà báo chính danh, lấy hoạt động báo chí làm nghề nghiệp xã hội với  người viết blog (blogger) lợi dụng Internet để thực hiện hành vi vi phạm quy định pháp luật của Việt Nam (Ðiều 88 của Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999).

Tương tự một số tổ chức đội lốt nhân quyền khác như "Tổ chức  theo dõi nhân quyền" (Human Rights Watch), "Ngôi nhà tự do" (Freedom House), “Ủy ban bảo vệ nhà báo” (CPJ),  RSF không hề tổ chức nghiên cứu, khảo sát thực tế tại Việt Nam; phớt lờ các thông tin và các số liệu chính thống, chỉ đưa ra một bảng khảo sát gồm 80 câu hỏi thuộc loại "trả lời sao cũng được", cóp nhặt tin tức một chiều, phiến diện, thậm chí bị bóp méo từ một số website, blog của các thế lực thù địch với Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, rồi phỏng vấn một số nhân vật vốn có định kiến cố hữu và cái nhìn thiếu thiện chí đối với Việt Nam, từ đó "xào nấu" lại thành một món hổ lốn rồi đưa vào cái gọi là "phúc trình thường niên". Với phương pháp điều tra, nghiên cứu phi khoa học và cực kỳ phiến diện như thế, liệu các báo cáo của RSF có "khách quan, tin cậy" như RSF và các thành viên của nó vẫn lớn tiếng khẳng định?

Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của mọi công dân; và cũng như các quốc gia khác, để giữ gìn kỷ cương và bảo đảm sự ổn định để phát triển, Nhà nước Việt Nam không cho phép lợi dụng những quyền này để tuyên truyền, kích động lật đổ chính quyền, phá hoại khối đoàn kết dân tộc.

Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán quan điểm tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do báo chí. Trên cơ sở nội luật hóa pháp luật quốc tế về quyền tự do báo chí, Hiến pháp năm 1946, hiến pháp đầu tiên của nước ta, đã khẳng định người dân có quyền tự do báo chí và được pháp luật bảo đảm thực hiện. Các bản hiến pháp sau này đều kế thừa và phát triển nội dung của Hiến pháp năm 1946 về quyền tự do báo chí. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” và khẳng định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Quy định này cũng được thể chế trong nhiều văn bản pháp luật Việt Nam, như: Bộ luật Hình sự 2015, Luật Báo chí năm 2016...

Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn trong việc bảo đảm quyền tự do báo chí của người dân. Theo thống kê, tính đến năm 2016, cả nước có 857 cơ quan báo chí, gồm: 199 cơ quan báo chí in, 658 tạp chí (trong đó có 105 báo, tạp chí điện tử); 01 hãng thông tấn quốc gia; 67 cơ quan phát thanh truyền hình. Hầu hết các bộ, ban, ngành, đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội đều có báo, tạp chí hoặc trang thông tin, báo điện tử.

Ở Việt Nam, báo chí thực sự trở thành cầu nối giữa "ý Đảng, lòng dân", tạo đồng thuận xã hội, thúc đẩy công cuộc xây dựng, phát triển đất nước; là phương tiện để người dân kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật và đóng góp ý kiến phản biện đối với các chính sách, pháp luật của Nhà nước; là công cụ bảo vệ lợi ích xã hội, bảo vệ quyền của người dân. Đó là minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí ở Việt Nam, phản bác luận điệu vu cáo Nhà nước Việt Nam.

Thời gian qua, Nhà nước Việt Nam đã xử lý các đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí vi phạm quyền và lợi ích của Nhà nước và công dân theo pháp luật, điều này hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế và pháp luật các quốc gia khác quy định trên lĩnh vực này.

Chúng ta khuyến khích tự do báo chí vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ lợi ích của Nhà nước và nhân dân. Và lẽ tất nhiên, chúng ta không thể chấp nhận việc lợi dụng tự do báo chí, tự do internet để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Ðảng và Nhà nước, xâm phạm lợi ích của công dân. Thực chất "tự do báo chí" và tự do Internet mà RSF hay một số tổ chức khác mong muốn là kiểu tự do vô chính phủ, hoàn toàn trái với dân chủ đích thực. Vậy nên, cái gọi là “Báo cáo về Chỉ số tự do báo chí toàn cầu năm 2018” và cũng trở nên vô nghĩa mà thôi!


Tống Giang